Đóng

Đà Nẵng: 'Cửa ngõ' giao dịch tín chỉ carbon chất lượng cao

Nếu có thể tháo gỡ những vướng mắc, Trung tâm tài chính quốc tế Đà Nẵng (VIFC-DN) sẽ là cửa ngõ quốc tế giao dịch tín chỉ carbon chất lượng cao của Việt Nam.

Định hình 5 sản phẩm tài chính chuyên biệt

Tại Hội thảo “VIFC-DN: Kiến tạo thể chế - Định hình dòng vốn thế hệ mới” do Tạp chí Đầu tư Tài chính - VietnamFinance phối hợp với Cơ quan điều hành Trung tâm Tài chính quốc tế Việt Nam tại TP. Đà Nẵng (VIFC-DN) tổ chức ngày 30/6, ông Kevin Bruce Iwanaga, Trưởng ban Chiến lược và Tổng hợp, Cơ quan điều hành VIFC-DN đã nêu 5 sản phẩm tài chính chủ lực, chuyên biệt mà VIFC-DN đang tập trung định hình, phát triển.

Ông Kevin Bruce Iwanaga, Trưởng ban Chiến lược và Tổng hợp, Cơ quan điều hành Trung tâm Tài chính quốc tế Việt Nam tại TP. Đà Nẵng (VIFC-DN)

Bao gồm: Token hóa tài sản thực; tín chỉ carbon và sàn giao dịch tín chỉ carbon; sàn giao dịch hàng hóa; quỹ đầu tư và quản lý tài sản; thị trường trái phiếu.

Trong đó, mỗi sản phẩm sẽ đảm nhận một vai trò riêng trong nền kinh tế và bổ trợ nhau trong một hệ sinh thái huy động vốn hiện đại, giúp VIFC-DN thu hút dòng vốn quốc tế, cấu trúc lại nguồn vốn thông qua các sản phẩm tài chính và phân bổ hiệu quả nguồn vốn vào nền kinh tế thực.

Theo Phó Chủ tịch UBND TP. Đà Nẵng Trần Chí Cường, thành phố đặt định hướng phát triển hướng tới mô hình trung tâm tài chính hiện đại, chủ động đi trước, đi ngay vào các phân khúc tài chính mới, thu hút các dòng vốn đầu tư gián tiếp, các quỹ đầu tư quốc tế, phát triển đa dạng các loại hình nhà đầu tư tổ chức, phát triển giao dịch tín chỉ carbon quốc tế, mã hóa tài sản thực và các sản phẩm, dịch vụ tài chính hiện đại theo thông lệ quốc tế, giúp khơi thông và đa dạng hóa kênh huy động vốn vào nền kinh tế, có thể triển khai được sớm, gắn với các cơ chế thử nghiệm có kiểm soát để áp dụng kết quả, khung quản lý rủi ro trong dài hạn.

Ưu tiên hàng đầu của Đà Nẵng hiện nay là khơi thông dòng vốn quốc tế luân chuyển thông qua VIFC-DN vào nền kinh tế, phát triển các dự án hạ tầng, dự án quy mô vốn lớn của cả khu vực tư nhân và khu vực công, biến VIFC-DN thực sự trở thành cánh cổng dẫn dắt dòng vốn quốc tế chảy vào Việt Nam, phục vụ mục tiêu tăng trưởng hai con số và các chiến lược dài hạn hơn.

Kỳ vọng VIFC-DN là ‘cửa ngõ’ giao dịch tín chỉ carbon chất lượng cao

Theo GS.TS Nguyễn Hữu Ninh, Chủ tịch Công ty TNHH Cered, VIFC-DN nên tham khảo mô hình thành công của IFC Busan, tức là nên chọn và định hình sản phẩm chuyên biệt, nổi trội. Trong trường hợp này, đối với VIFC-DN là sản phẩm này là phát triển thị trường tín chỉ carbon.

GS.TS Nguyễn Hữu Ninh, Chủ tịch Công ty TNHH Cered khuyến nghị VIFC-DN tập trung phát triển sản phẩm thị trường carbon

Dù vậy, GS.TS Nguyễn Hữu Ninh cũng chỉ ra còn nhiều “rào cản” để thúc đẩy thị trường giao dịch tín chỉ carbon.

Hiện nay, hành lang pháp lý về thị trường tín chỉ carbon chưa đồng bộ; năng lực doanh nghiệp rất hạn chế, phần lớn doanh nghiệp trong nước chưa hiểu rõ phương pháp kiểm kê nhà kính, cũng như chưa hiểu về tầm quan trọng của việc quy đổi carbon để đáp ứng tiêu chuẩn xuất khẩu công nghiệp.

Bên cạnh đó, cơ sở dữ liệu, về công nghệ, hệ thống đo đạc, báo cáo và thẩm định đều chưa đạt chuẩn quốc tế; dữ liệu chưa minh bạch, gây khó khăn cho việc xác minh và cấp tín chỉ carbon uy tín. “Cơ chế định giá tín chỉ carbon trong nước còn nhiều biến động và rủi ro. Giá tín chỉ carbon tại các dự án nông nghiệp, rừng trong nước hiện còn ở mức thấp so với thị trường thế giới. Thiếu cơ chế bình ổn giá, ổn giá, khiến các nhà đầu tư không mặn mà với các dự án giảm phát thải dài hạn của Việt Nam”, GS.TS Nguyễn Hữu Ninh chỉ ra và khuyến nghị: “Nếu Đà Nẵng lấy phát triển thị trường carbon là trọng điểm chiến lược, xác định đây là một trong 5 trọng tâm thì cần tập trung nguồn lực, kỹ thuật để giải quyết bài toán này cho Việt Nam. Thay vì phân tán nguồn lực, Đà Nẵng có thể tập trung vào sản phẩm có lợi thế cạnh tranh nhất, mà theo tôi, thị trường carbon là màu mỡ nhất”.

Còn ông Kevin Bruce Iwanaga nhìn nhận, tại Việt Nam thị trường carbon có thể phân định thành 2 phân khúc: thị trường nội địa và thị trường quốc tế. Về thị trường nội địa, Việt Nam đang triển khai thí điểm hệ thống giao dịch hạn ngạch phát thải (ETS) dựa trên các hoạt động khử carbon của 110 doanh nghiệp phát thải lớn thuộc ba lĩnh vực khác nhau tại Việt Nam: nhiệt điện, thép và xi măng. Đây là tín hiệu rất tích cực khi Việt Nam đã chủ động triển khai thị trường này.

Ở vai trò của mình, VIFC-DN có thể đóng vai trò quan trọng và then chốt trên thị trường carbon quốc tế với tư cách là nhà cung cấp chính các tín chỉ carbon chất lượng cao và đáng tin cậy. “Thế giới hiện đang hướng đến Việt Nam như một nhà cung cấp tiềm năng lớn các tín chỉ carbon chất lượng cao, và điều này khá khác biệt so với thị trường nội địa. Vì vậy, VIFC-DN sẽ tập trung nhiều hơn vào thị trường quốc tế. Tôi cho rằng VIFC-DN có thể đóng vai trò là cửa ngõ quốc tế cho việc bán tín chỉ carbon chất lượng cao của Việt Nam cho các nhà đầu tư quốc tế và nước ngoài, bao gồm chính phủ và các doanh nghiệp”, ông Kevin Bruce Iwanaga nhận định.

Thị trường tín chỉ carbon được coi là 'mảnh đất màu mỡ' nhưng còn nhiều điểm nghẽn về pháp lý cần được tháo gỡ để có thể bán tín chỉ carbon của Việt Nam ra thị trường thế giới

Theo chuyên gia VIFC-DN, để bán tín chỉ carbon của Việt Nam ra thị trường quốc tế cần phải hoàn thiện về khung pháp lý và quy định riêng biệt cụ thể. Như, xác định tín chỉ carbon là công cụ tài chính được thương mại hóa, là tài sản kỹ thuật số… “Hiện chưa có cơ chế tài chính nào để phân loại và công nhận tín chỉ carbon kỹ thuật số, hay quyền sở hữu và quyền sử dụng tín chỉ carbon, cũng như những quy định về thuế tùy theo cách phân loại sản phẩm, dòng vốn và tác động ngoại hối,… Đây là một vấn đề phức tạp, đòi hỏi cần phải xem xét kỹ lưỡng và phải có khung pháp lý chuẩn”, ông Kevin Bruce Iwanaga nói.

Trung tâm Tài chính quốc tế Đà Nẵng (VIFC-DN) đang định hình phát triển thị trường tín chỉ carbon là 1 trong 5 sản phẩm tài chính chủ lực, hướng tới trở thành cửa ngõ quốc tế cung cấp tín chỉ carbon chất lượng cao. Dù vậy, theo các chuyên gia, để hiện thực hóa định hướng này, bên cạnh sự nỗ lực của VIFC-DN ở vấn đề kỹ thuật, nhân lực, thì ở góc độc vĩ mô, cần phải hoàn thiện khung pháp lý liên quan đến thị trường carbon để minh bạch thông tin, làm cơ sở thu hút dòng vốn quốc tế vào thị trường này.

Vũ Lê