Đóng

Động lực bứt phá cho tăng trưởng sau Hội nghị Trung ương 2 khóa XIV

TS. Trần Văn Khải đã có những phân tích sâu về nền tảng chính sách từ Hội nghị Trung ương 2 khóa XIV và hệ quy chiếu của Nghị quyết Đại hội XIV.

TS. Trần Văn Khải: Hội nghị Trung ương 2 khóa XIV (diễn ra trong 3 ngày, từ 23-25/3/2026 tại Hà Nội) vừa khép lại với một đặc điểm nổi bật: Không chỉ bàn “điểm đến”, mà tập trung hoàn thiện “hệ điều hành” để biến Nghị quyết thành năng lực thực thi. Thông báo Hội nghị nhấn mạnh chương trình làm việc toàn khóa hướng vào các vấn đề mới, “mở đường” như tự chủ chiến lược, nâng cao năng suất quốc gia, thích ứng già hoá dân số, chuyển đổi xanh và ứng phó biến đổi khí hậu. 

Về mặt thể chế lãnh đạo và tổ chức thực hiện, Hội nghị thông qua nhiều văn kiện/nội dung nền tảng: Quy chế làm việc của các cơ quan lãnh đạo; chương trình làm việc toàn khóa; quy định về công tác chính trị, tư tưởng (cụ thể hóa “Bốn kiên định”); đồng thời ban hành các nghị quyết liên quan kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng và phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực. Đáng chú ý, Hội nghị cũng cho ý kiến về các kế hoạch 5 năm 2026-2030, gồm kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, tài chính quốc gia, đầu tư công trung hạn và vay, trả nợ công. 

Kiên trì thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế cao, bền vững, thực chất

Trong phát biểu bế mạc Hội nghị lần thứ 2 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XIV, Tổng Bí thư đã quán triệt sâu sắc, thực hiện thật nghiêm túc, nhất quán “Bốn kiên định”về chính trị, tư tưởng; kiên trì thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế cao, bền vững, thực chất. Việc triển khai mục tiêu tăng trưởng "hai con số" phải được tiến hành một cách nhất quán, đồng bộ và kiên định.

Hệ quy chiếu cốt lõi để “đúng và trúng” trong triển khai chính là Nghị quyết Đại hội XIV với nhóm nhiệm vụ trọng tâm bao quát từ hoàn thiện thể chế, xây dựng Đảng và hệ thống chính trị, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đột phá khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số (ưu tiên chip bán dẫn, trí tuệ nhân tạo), phát triển con người, văn hóa, an sinh, đến quốc phòng, an ninh, đối ngoại.

Song hành là các đột phá chiến lược về: Thể chế và tổ chức thực hiện; nguồn nhân lực và công tác cán bộ; kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, trong đó nêu rõ hạ tầng công nghệ, hạ tầng phục vụ chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và chuyển đổi năng lượng. 

TS. Trần Văn Khải: Các định chế quốc tế đều nhận định triển vọng tăng trưởng trung hạn của Việt Nam vẫn vững, nhưng đi kèm “gió ngược” lớn hơn và yêu cầu cải cách sâu hơn. Quỹ Tiền tệ Quốc tế cho biết kinh tế Việt Nam phục hồi mạnh trong 2024 và nửa đầu 2025, nhưng triển vọng bị ràng buộc bởi bất định cao của môi trường thương mại/chính sách toàn cầu; mô hình tăng trưởng hướng xuất khẩu đối mặt thách thức từ biến động chính sách thương mại, già hóa dân số, điều kiện tài chính toàn cầu thắt chặt và rủi ro khí hậu; đồng thời nhấn mạnh cơ hội nâng tăng trưởng trung hạn nếu thúc đẩy chương trình cải cách và nâng cấp hạ tầng. 

Báo cáo CCDR của Ngân hàng Thế giới đề xuất Việt Nam phải chuyển “hệ hình phát triển” theo hai lộ trình gắn kết: tăng khả năng chống chịu và khử carbon để vừa đạt mục tiêu phát triển, vừa ứng phó rủi ro khí hậu. Cam kết phát thải ròng bằng “0” vào 2050 (tuyên bố tại COP26) cũng là một ràng buộc chiến lược, đòi hỏi tăng trưởng giai đoạn 2026-2030 phải “xanh hóa” ngay trong cấu trúc, chứ không chỉ “xanh hóa” ở khẩu hiệu. 

Phát biểu bế mạc Hội nghị lần thứ 2 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XIV, Tổng Bí thư Tô Lâm nhấn mạnh: Mục tiêu tăng trưởng kinh tế "hai con số" là đòi hỏi khách quan từ yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới và khát vọng vươn lên của cả dân tộc.

Vì vậy, mục tiêu “hai con số” có thể hiểu như một “trạng thái phát triển” cần tạo đột phá về năng suất, chất lượng, giá trị gia tăng và sức cạnh tranh. Điều này nhất quán với yêu cầu “tăng trưởng thực chất” mà Tổng Bí thư nêu: Mỗi phần trăm tăng trưởng phải chứa hàm lượng tri thức và giá trị gia tăng cao hơn, dựa trên nâng năng suất các nhân tố tổng hợp, chứ không đánh đổi chất lượng lấy tốc độ. 

Mục tiêu tăng trưởng 2 con số giai đoạn 2026 - 2030 tuy thách thức nhưng không nằm ngoài tầm với

Theo tôi, mục tiêu tăng trưởng 2 con số giai đoạn 2026 - 2030 tuy thách thức nhưng không nằm ngoài tầm với. Nền kinh tế Việt Nam 40 năm sau đổi mới (Đại hội VI-1986) đã chuyển mình nhanh chóng. Đặc biệt, trong giai đoạn 5 năm 2021-2025, có những thành tựu nổi bật, mang tính lịch sử trong công cuộc phát triển kinh tế - xã hội đất nước, nâng tầm vị thế, uy tín của Việt Nam, tạo vận hội, thời cơ, thuận lợi mới để cả nước chuyển mình theo các mục tiêu Nghị quyết Đại hội XIV. Nền kinh tế đã khẳng định sự phục hồi rõ nét, là điểm sáng về tăng trưởng và thuộc nhóm nước tăng trưởng cao trên thế giới.

Năm 2025, quy mô GDP đạt 514 tỷ USD, xếp thứ 32 thế giới và thứ 4 trong khu vực ASEAN; GDP bình quân đầu người đạt 5.026 USD, bước vào nhóm các nước thu nhập trung bình cao… Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) đánh giá, Việt Nam nằm trong Top 10 nước tăng trưởng cao nhất thế giới. Còn Standard Chartered dự báo Việt Nam thuộc nhóm 5 nước tăng trưởng nhanh nhất châu Á; báo cáo B-Ready 2025 của Ngân hàng Thế giới (WB) cũng đánh giá Việt Nam trong nhóm 21 nền kinh tế có thành tích nổi bật trong năm 2025.

TS. Trần Văn Khải: Đúng vậy, Nghị quyết Đại hội XIV đã đưa ra các nhóm nhiệm vụ trọng tâm và các đột phá chiến lược như “hệ điều hành” của tăng trưởng thực chất. “Nhiệm vụ trọng tâm” có tính bao trùm đó là: (i) Ưu tiên xây dựng đồng bộ thể chế phát triển, trọng tâm là hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách nhằm tháo gỡ các nút thắt, điểm nghẽn; (ii) Xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị, đổi mới công tác cán bộ, tăng kiểm soát quyền lực; (iii) Phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa hiện đại và xác lập mô hình tăng trưởng mới (lấy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chính, đồng thời thúc đẩy kinh tế số, xanh, tuần hoàn); (iv) Đột phá về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số với ưu tiên phát triển một số ngành công nghiệp, công nghệ chiến lược, trọng tâm là chip bán dẫn, trí tuệ nhân tạo; (v) Phát triển nguồn lực con người, phát triển văn hoá trở thành sức mạnh nội sinh, xây dựng nền giáo dục quốc dân hiện đại, coi trọng và đầu tư cho sự nghiệp chăm sóc sức khoẻ nhân dân, giải quyết tốt các chính sách xã hội; (vi) Tiếp tục xây dựng lực lượng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại. Đẩy mạnh triển khai đồng bộ, sáng tạo, hiệu quả công tác đối ngoại; nâng tầm và phát huy vai trò đối ngoại đảng, ngoại giao nhà nước và đối ngoại nhân dân trong việc kiến tạo môi trường hoà bình, ổn định, hữu nghị, hợp tác, thuận lợi cho phát triển đất nước.

Việt Nam thuộc nhóm nước tăng trưởng cao trên thế giới

Bên cạnh đó, là các “đột phá chiến lược” tạo đòn bẩy gồm: Đột phá thể chế và năng lực tổ chức thực hiện (đẩy mạnh phân cấp, phân quyền; thúc đẩy đột phá khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; phát triển mô hình/phương thức sản xuất kinh doanh mới); đột phá nguồn nhân lực chất lượng cao gắn đổi mới công tác cán bộ theo hướng thực chất; đột phá trong xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, nhất là kết cấu hạ tầng giao thông đa phương thức, hạ tầng công nghệ, hạ tầng phục vụ chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, chuyển đổi năng lượng.

Điểm “then chốt của then chốt” là tổ chức thực hiện. Từ Thông báo Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV, yêu cầu “đi trước, mở đường” của công tác chính trị, tư tưởng được gắn chặt với phương thức đột phá là ứng dụng khoa học công nghệ và chuyển đổi số, đồng thời nhấn mạnh xử lý dứt điểm tình trạng “luật đúng nhưng làm khó” gây lãng phí nguồn lực.

Cùng mạch đó, Chương trình hành động triển khai Nghị quyết Đại hội XIV nhấn mạnh chuyển mạnh từ “nói” sang “làm”, “đo lường bằng kết quả”, lấy mức độ hài lòng của người dân và doanh nghiệp làm thước đo; đồng thời, lượng hóa bằng hệ thống chỉ tiêu và danh mục nhiệm vụ/đề án/dự án quy mô lớn trong 2026-2030.

Từ góc độ kinh tế học tăng trưởng, cấu trúc trên cho phép “giải bài toán hai con số” theo đúng tinh thần “thực chất”: Không phải bơm tổng cầu bằng mọi giá, mà là nâng trần năng lực sản xuất (năng suất, công nghệ, hạ tầng), giảm ma sát thể chế (chi phí tuân thủ, thủ tục, phối hợp liên ngành), và tạo cơ chế khơi thông nguồn lực xã hội (đầu tư công hiệu quả + PPP + tư nhân nội địa trưởng thành). 

TS. Trần Văn Khải: Thông điệp xuyên suốt của Hội nghị có thể tóm lại bằng một cặp phạm trù: Quyết tâm chính trị mạnh mẽ đi cùng kỷ luật chất lượng. Tổng Bí thư nói rõ “không chấp nhận tăng trưởng thấp”, nhưng đồng thời thiết lập nguyên tắc để tránh rơi vào “chạy theo thành tích”. 

Bốn nguyên tắc triển khai mục tiêu “hai con số” được trình bày như một “bộ lọc chính sách”. Thứ nhất, tăng trưởng phải “thực chất”: Không đánh đổi bền vững lấy tốc độ; tăng trưởng dựa trên TFP, chất lượng sản phẩm, năng lực cạnh tranh và giá trị gia tăng, “mỗi phần trăm GDP” có hàm lượng tri thức cao hơn. 

Cần tạo đột phá về năng suất, chất lượng, giá trị gia tăng và sức cạnh tranh

Thứ hai, kiên định ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, bảo đảm cân đối lớn; phối hợp tài khóa, tiền tệ chủ động, linh hoạt để củng cố niềm tin thị trường và sức chống chịu trước cú sốc bên ngoài. 

Thứ ba, tận dụng mọi nguồn lực nhưng phải ưu tiên dự án trọng điểm và PPP, gắn nguyên tắc “khoa học” và hạch toán kinh tế - xã hội để chống dàn trải, lãng phí.  

Thứ tư, tăng trưởng cao phải phục vụ nâng cao đời sống nhân dân và công bằng xã hội; thành quả tăng trưởng phải được chia sẻ công bằng để củng cố đồng thuận xã hội. 

Một điểm đặc biệt có giá trị “tín hiệu thị trường” là cách đặt thước đo: Cải cách và tăng trưởng không được tự thỏa mãn bằng chỉ tiêu nội bộ, mà phải kiểm nghiệm qua trải nghiệm xã hội. Trong phát biểu bế mạc, Tổng Bí thư nhấn mạnh mô hình chính quyền địa phương 2 cấp là phương thức quản trị mới “phục vụ người dân, doanh nghiệp tốt hơn”; và “sự hài lòng của người dân và doanh nghiệp” là tiêu chí cuối cùng đánh giá thành công. 

Cuối cùng, thông điệp “tăng trưởng thực chất” được đặt trong kiến trúc kiểm soát quyền lực, phòng chống tham nhũng, lãng phí như một điều kiện nền tảng để bảo vệ niềm tin và môi trường phát triển, nhất là khi triển khai nhiều dự án lớn và cơ chế mới thông thoáng hơn. 

TS. Trần Văn Khải: Việc Tổng Bí thư chỉ đạo “sớm xây dựng Nghị quyết về mô hình phát triển” dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số có thể coi là bước “đặt tên đúng cho động lực chủ đạo” của giai đoạn 2026-2030.  Nghị quyết Đại hội XIV đã xác lập rõ: Tái cơ cấu và mô hình tăng trưởng mới lấy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chính; đồng thời ưu tiên ngành công nghiệp, công nghệ chiến lược như chip bán dẫn và trí tuệ nhân tạo. 

Theo tôi, Nghị quyết “mô hình phát triển mới” cần làm ba việc lớn. Một là, hợp nhất mục tiêu (năng suất, giá trị gia tăng, năng lực cạnh tranh) với công cụ (dữ liệu, hạ tầng số, AI, công nghệ chiến lược) thành một “chuỗi giá trị chính sách” xuyên suốt từ trung ương đến cơ sở. 

Hai là, thiết kế cơ chế đầu tư có trọng tâm: ưu tiên dự án trọng điểm, PPP, và hạch toán kinh tế - xã hội nghiêm; đồng thời gắn chống lãng phí với nền quản trị dữ liệu và minh bạch hóa quy trình.  

Ba là, đặt “đổi mới sáng tạo” vào đúng vị trí, không chỉ là phong trào, mà là kiến trúc thể chế cho thử nghiệm có kiểm soát, bảo vệ người dám nghĩ, dám làm, thúc đẩy doanh nghiệp làm trung tâm đổi mới, và đo lường bằng kết quả xã hội. 

Đặc biệt, mô hình phát triển mới phải là mô hình “xanh và chống chịu”, nhất quán với cam kết phát thải ròng bằng “0” vào 2050 và định hướng CCDR về lộ trình chống chịu + khử carbon. 

Xin cảm ơn ông!

Quỳnh Nga - Hồng Thịnh