Đóng

E-magazine I Lâm Đồng tạo đà bứt phá nhờ Nghị quyết số 57

Từ nông nghiệp công nghệ cao đến thương mại điện tử, Lâm Đồng đưa công nghệ vào sản xuất, kinh doanh, quản trị, tạo động lực tăng trưởng mới theo Nghị quyết số 57-NQ/TW.

Chuyển đổi số không chỉ được đo bằng số lượng trạm phát sóng, tỷ lệ người dân sử dụng Internet hay những nền tảng công nghệ mới. Giá trị lớn hơn nằm ở cách công nghệ làm thay đổi phương thức sản xuất, mở rộng thị trường, giảm chi phí và tạo ra những cơ hội phát triển mới cho người dân, doanh nghiệp. Với Lâm Đồng, địa phương có thế mạnh về nông nghiệp công nghệ cao, du lịch và thương mại, đây cũng là hướng đi để khai thác hiệu quả hơn tiềm năng sẵn có. Từ những vùng sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ đến hoạt động kết nối cung - cầu trên môi trường số, quá trình chuyển đổi đang mở ra dư địa phát triển mới, đồng thời đặt ra yêu cầu phải biến hạ tầng và công nghệ thành năng suất, giá trị kinh tế thực chất.

Khi công nghệ trở thành đòn bẩy cho nông sản

Trong chuỗi giá trị nông nghiệp, chất lượng sản phẩm là điều kiện cần, nhưng khả năng truy xuất nguồn gốc, xây dựng thương hiệu và tiếp cận thị trường mới quyết định phần lớn cơ hội phát triển lâu dài. Với một địa phương có thế mạnh nông nghiệp như Lâm Đồng, ứng dụng công nghệ số vì thế không đơn thuần là thay đổi công cụ sản xuất, mà còn là cách tổ chức lại chuỗi giá trị.

Lâm Đồng đưa công nghệ thực sự trở thành động lực phát triển.

Những năm qua, Lâm Đồng tiếp tục phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, với khoảng 107.306 ha sản xuất theo các mô hình này. Nhiều cơ sở đã ứng dụng Internet vạn vật (IoT), trí tuệ nhân tạo (AI) và tự động hóa vào quy trình canh tác, góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực, kiểm soát điều kiện sản xuất và cải thiện chất lượng nông sản.

Tuy nhiên, để nông sản tạo ra giá trị cao hơn, công nghệ không thể dừng lại ở khâu sản xuất. Một sản phẩm có chất lượng cần được nhận diện rõ ràng, có thông tin minh bạch và kết nối được với những thị trường phù hợp. Đây là lý do chuyển đổi số trong nông nghiệp ngày càng gắn chặt với thương mại điện tử, truy xuất nguồn gốc và hoạt động xúc tiến thương mại.

Ngành Công Thương Lâm Đồng đang từng bước thúc đẩy quá trình này thông qua số hóa thông tin sản phẩm, chuẩn hóa dữ liệu vùng trồng và mở rộng các kênh phân phối. Theo số liệu được cung cấp, tỉnh đã phối hợp chuẩn hóa 961 mã số vùng trồng định vị bằng hệ thống thông tin địa lý (GIS); 100% sản phẩm OCOP được hỗ trợ quảng bá trên các sàn thương mại điện tử.

Những công cụ số giúp thông tin về vùng nguyên liệu, quy trình sản xuất và nguồn gốc hàng hóa được thể hiện rõ ràng hơn. Đây là nền tảng để sản phẩm địa phương tăng khả năng tiếp cận hệ thống bán lẻ hiện đại, phục vụ hoạt động kết nối giao thương và từng bước đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của thị trường trong nước, quốc tế.

Đáng chú ý, Lâm Đồng định hướng số hóa 100% sản phẩm OCOP, hỗ trợ đưa tối thiểu 1.900 đơn vị với hơn 4.000 sản phẩm nông sản, OCOP lên các sàn thương mại điện tử trong nước và quốc tế trong giai đoạn 2026-2030. Tỉnh cũng đặt mục tiêu ít nhất 70% sản phẩm nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao đạt tiêu chuẩn chất lượng, có nhận diện thương hiệu và truy xuất nguồn gốc bằng mã QR.

Để những mục tiêu này đi vào thực tế, bài toán đặt ra không chỉ là đưa sản phẩm lên sàn mà còn phải giúp doanh nghiệp, hợp tác xã và hộ sản xuất duy trì chất lượng, tổ chức nguồn cung ổn định, đáp ứng yêu cầu giao hàng và chăm sóc khách hàng. Công nghệ chỉ phát huy hiệu quả khi được gắn với năng lực quản trị và khả năng thích ứng với thị trường.

Cùng với nông nghiệp, du lịch cũng là lĩnh vực có nhiều dư địa để Lâm Đồng khai thác lợi thế từ chuyển đổi số. Từ Đà Lạt với khí hậu và cảnh quan đặc trưng đến Mũi Né với lợi thế du lịch biển, cùng những điểm đến giàu tiềm năng về địa chất, sinh thái và văn hóa, việc ứng dụng công nghệ có thể giúp đa dạng hóa trải nghiệm, cải thiện khả năng tiếp cận thông tin và nâng cao chất lượng phục vụ du khách.

Theo định hướng của tỉnh, tối thiểu 70% cơ sở du lịch sử dụng nền tảng số trong quản trị, kinh doanh; 100% điểm du lịch cộng đồng ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số. Các điểm tham quan, di tích, danh lam thắng cảnh được định hướng số hóa bằng công nghệ 3D, VR360, kết hợp xây dựng cơ sở dữ liệu và bản đồ số du lịch cộng đồng.

Khi thông tin điểm đến được số hóa, du khách có thể chủ động tìm hiểu, lựa chọn hành trình và tiếp cận những trải nghiệm phù hợp. Với doanh nghiệp, nền tảng số tạo thêm kênh quảng bá, hỗ trợ quản lý hoạt động kinh doanh và kết nối các dịch vụ trong chuỗi du lịch.

Từ nông nghiệp đến du lịch, điểm chung của quá trình chuyển đổi là hướng công nghệ vào nhu cầu thực tế của thị trường. Thay vì chỉ gia tăng sản lượng hay mở rộng quy mô, Lâm Đồng có cơ hội nâng giá trị sản phẩm, đa dạng hóa dịch vụ và tạo thêm nguồn thu trên nền tảng những lợi thế vốn có.

Hoàn thiện hạ tầng, tạo nền tảng cho tăng trưởng mới

Để công nghệ thực sự trở thành động lực phát triển, hạ tầng số và khả năng tiếp cận công nghệ của người dân, doanh nghiệp đóng vai trò nền tảng. Đây cũng là một trong những nhiệm vụ được Lâm Đồng xác định khi cụ thể hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.

Theo ông Võ Thành Công, Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ Lâm Đồng, tỉnh chú trọng đầu tư hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng số và công nghệ thông tin nhằm tạo bước chuyển trong phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. UBND tỉnh đã ban hành các kế hoạch phát triển hạ tầng số giai đoạn 2025-2030, triển khai hạ tầng 5G và Internet vạn vật tại các khu công nghiệp, cụm công nghiệp.

Toàn tỉnh hiện có 12.245 trạm thu phát sóng di động (BTS), trong đó có 1.208 trạm BTS 5G; 555 trạm BTS kiên cố có khả năng chống chịu thiên tai cấp độ 4. Số thuê bao sử dụng điện thoại thông minh đạt hơn 3,31 triệu, chiếm 82,93%; thuê bao kết nối Internet đạt hơn 3,65 triệu, tương đương 91,37%.

Mạng băng rộng di động 3G, 4G, 5G đã phủ sóng 100% dân số tại các xã, phường, đặc khu trên địa bàn tỉnh, trong đó tỷ lệ phủ sóng 5G đạt 86%. Mạng cáp quang FTTH đã phủ đến 100% trung tâm các xã, phường, đặc khu. Những con số này cho thấy điều kiện tiếp cận các dịch vụ số đang được mở rộng, tạo tiền đề để công nghệ đi sâu hơn vào hoạt động sản xuất, kinh doanh và quản lý xã hội.

Song song với hạ tầng kết nối, tỉnh từng bước phát triển các nền tảng phục vụ nghiên cứu, ứng dụng và chuyển giao công nghệ. Cổng thông tin kết nối cung - cầu khoa học, công nghệ tỉnh Lâm Đồng (Techport Lâm Đồng) được xây dựng nhằm cung cấp thông tin về nguồn cung, nhu cầu công nghệ, thúc đẩy kết nối chuyển giao, thương mại hóa kết quả nghiên cứu, sáng chế và các hoạt động đổi mới sáng tạo.

Đây là một trong những hướng tiếp cận nhằm rút ngắn khoảng cách giữa nghiên cứu và thực tiễn. Khi nhu cầu công nghệ của doanh nghiệp được kết nối với các đơn vị nghiên cứu, tổ chức khoa học và nhà cung cấp giải pháp, cơ hội ứng dụng tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất có thể được mở rộng.

Các trung tâm phục vụ hành chính công ở Lâm Đồng đẩy mạnh làm thủ tục số hoá.

Dù vậy, hạ tầng hiện đại mới là điều kiện ban đầu. Để người dân sử dụng thành thạo dịch vụ công trực tuyến, thanh toán số và các nền tảng phục vụ đời sống, kỹ năng số phải được phổ cập rộng rãi, nhất là ở khu vực nông thôn, miền núi và vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

Theo ông Võ Thành Công, chương trình “Bình dân học vụ số” đã thu hút 119.077 lượt người tham gia. Nội dung tập trung vào kỹ năng sử dụng dịch vụ công trực tuyến, thanh toán số, bảo vệ thông tin cá nhân và khai thác các nền tảng số phục vụ đời sống, học tập, sản xuất, kinh doanh.

Cùng với đó, tỉnh từng bước thử nghiệm các giải pháp trí tuệ nhân tạo, trợ lý ảo và chatbot trong hoạt động quản lý, điều hành và cung cấp dịch vụ công. Nếu được triển khai phù hợp, những công cụ này có thể hỗ trợ cán bộ xử lý thông tin, nâng cao chất lượng tham mưu, đồng thời giúp người dân, doanh nghiệp tiếp cận thủ tục hành chính thuận tiện hơn.

Theo Kế hoạch số 15358/KH-UBND về triển khai Chương trình phát triển kinh tế số và xã hội số giai đoạn 2026-2030, Lâm Đồng đặt mục tiêu đến năm 2030, kinh tế số đóng góp khoảng 30% GRDP; trên 60% doanh nghiệp nhỏ và vừa ứng dụng công nghệ số. Tỉnh cũng phấn đấu để 100% hộ gia đình được tiếp cận Internet băng rộng cáp quang tốc độ 1 Gb/s, mạng 5G tốc độ tối thiểu 100 Mb/s phủ 99% dân số và trên 95% người từ 15 tuổi trở lên có tài khoản giao dịch tại ngân hàng hoặc tổ chức được phép.

Một hướng đi đáng chú ý là nâng cao năng lực phân tích dữ liệu phục vụ quản trị. Trung tâm điều hành thông minh (IOC) được định hướng chuyển từ tổng hợp, hiển thị thông tin sang phân tích, dự báo, cảnh báo sớm và hỗ trợ ra quyết định trên cơ sở dữ liệu lớn, trí tuệ nhân tạo. Theo lộ trình, tỉnh dự kiến ban hành kế hoạch ứng dụng AI trong các cơ quan nhà nước năm 2027, thí điểm một số ứng dụng trong giai đoạn 2027-2028 và triển khai trợ lý ảo, chatbot hỗ trợ người dân, doanh nghiệp trong giai đoạn 2027-2029.

Những năm qua, Lâm Đồng tiếp tục phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, với khoảng 107.306 ha sản xuất theo các mô hình này.

Đi cùng với quá trình này là yêu cầu bảo đảm an toàn thông tin, an ninh mạng và bảo vệ dữ liệu. Chuyển đổi số càng mở rộng, việc quản lý, kết nối và khai thác dữ liệu càng cần được thực hiện theo quy trình chặt chẽ, bảo đảm an toàn cho cơ quan quản lý, doanh nghiệp và người sử dụng.

Theo ông Nguyễn Ngọc Phúc, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Lâm Đồng, thời gian tới, tỉnh tiếp tục triển khai đồng bộ các nhiệm vụ phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số theo Nghị quyết số 57-NQ/TW. Trọng tâm là hoàn thiện cơ chế, chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư, ứng dụng công nghệ mới; thúc đẩy AI, IoT và dữ liệu lớn trong các ngành kinh tế mũi nhọn; phát triển hệ sinh thái khởi nghiệp và tăng cường liên kết giữa Nhà nước, nhà trường, doanh nghiệp.

Từ những vùng sản xuất ứng dụng công nghệ cao đến các nền tảng thương mại điện tử, từ việc phổ cập kỹ năng số đến xây dựng hệ thống dữ liệu phục vụ điều hành, Lâm Đồng đang từng bước mở rộng không gian phát triển trên môi trường số.

Lê Sơn - Duy Tín