Đóng

Gần 6 tỷ USD nhập khẩu linh kiện ô tô: Cơ hội nào cho doanh nghiệp Việt?

Doanh nghiệp cơ khí Việt đang tìm cơ hội tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng ô tô; tuy nhiên, hạn chế về công nghệ, năng lực sản xuất và đơn hàng vẫn là những rào cản lớn.

Nghịch lý tăng trưởng

Sản xuất công nghiệp Việt Nam tiếp tục duy trì đà tăng trưởng cao trong năm 2026, tạo cơ hội phát triển các ngành cơ khí chế tạo, linh kiện và phụ tùng. Tuy nhiên, năng lực cung ứng của doanh nghiệp trong nước vẫn chưa theo kịp nhu cầu của các nhà sản xuất, lắp ráp.

Theo Cục Thống kê, 10 tháng năm 2026, chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tăng 12,4% so với cùng kỳ năm trước, mức tăng cao nhất của cùng kỳ giai đoạn 2019 - 2026; trong đó, công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 13,0%. Một số ngành có nhu cầu lớn về linh kiện, phụ tùng tiếp tục tăng trưởng, gồm sản xuất kim loại tăng 25,6%, sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 15,2%, sản xuất xe có động cơ tăng 14,6%.

Kim ngạch nhập khẩu nhóm hàng ô tô đạt 11,187 tỷ USD, tăng 31,2% so với cùng kỳ năm trước. Riêng linh kiện và phụ tùng ô tô, số liệu Cục Hải quan tính đến ngày 15/10/2026 ghi nhận gần 5,97 tỷ USD. Quy mô nhập khẩu lớn đặt ra bài toán nâng cao năng lực sản xuất trong nước, nhất là các linh kiện có yêu cầu kỹ thuật cao, đồng thời mở ra cơ hội để doanh nghiệp cơ khí Việt Nam đầu tư công nghệ, nâng cao chất lượng sản phẩm và tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng ngành ô tô.

Việt Nam chi gần 6 tỷ USD nhập khẩu linh kiện, phụ tùng ô tô trong hơn 9 tháng năm 2026.

Trao đổi với phóng viên Báo Công Thương, TS. Nguyễn Quang Tuyển - Viện Nghiên cứu Chiến lược, Chính sách Công Thương đánh giá ngành công nghiệp ô tô Việt Nam đang có cơ hội phát triển song vẫn đối mặt với những hạn chế mang tính cấu trúc. Quy mô thị trường tăng song chưa đạt hiệu quả kinh tế theo quy mô như một số quốc gia trong khu vực.

Tỷ lệ nội địa hóa đối với ô tô dưới 9 chỗ mới đạt khoảng 10-15%. Phần lớn linh kiện vẫn phụ thuộc nguồn nhập khẩu, đặc biệt là các bộ phận có hàm lượng kỹ thuật cao. Doanh nghiệp trong nước chủ yếu sản xuất những chi tiết đơn giản, giá trị gia tăng thấp. Những bộ phận quan trọng như động cơ, cảm biến và hệ thống điều khiển vẫn phụ thuộc nhiều vào nhà cung cấp nước ngoài.

Ông Chu Việt Cường -  Cục Công nghiệp, Bộ Công Thương nhận định, năng lực cung ứng linh kiện của doanh nghiệp trong nước mới đáp ứng khoảng 15-40% nhu cầu tùy phân khúc. Khả năng tham gia sâu vào chuỗi sản xuất còn hạn chế bởi công nghệ, quản trị, nguyên liệu đầu vào và tiêu chuẩn kỹ thuật.

Liên kết chuỗi cũng là điểm yếu lớn của công nghiệp hỗ trợ ô tô. Các tập đoàn đa quốc gia thường ưu tiên nhà cung cấp trong hệ sinh thái đã hình thành, khiến doanh nghiệp Việt Nam gặp khó khăn khi tiếp cận đơn hàng. Thực trạng này đặt ra yêu cầu phát triển công nghiệp hỗ trợ theo chiều sâu, tập trung nâng cao năng lực thiết kế, chế tạo khuôn mẫu, gia công chính xác, sản xuất linh kiện kỹ thuật và từng bước làm chủ công nghệ.

Đơn hàng tạo thị trường, công nghệ nâng năng lực cạnh tranh

Đầu tư thiết bị hiện đại giúp doanh nghiệp cơ khí nâng cao độ chính xác, tăng năng suất và đáp ứng các tiêu chuẩn chất lượng. Tuy nhiên, hiệu quả đầu tư phụ thuộc lớn vào quy mô thị trường và khả năng duy trì đơn hàng. Đối với lĩnh vực cơ khí chính xác, các dây chuyền gia công CNC, hệ thống đo kiểm và robot tự động hóa đòi hỏi nguồn vốn lớn, trong khi thời gian thu hồi vốn chịu tác động trực tiếp của sản lượng, giá bán và mức độ khai thác công suất.

Khi đơn hàng thiếu ổn định, doanh nghiệp khó xây dựng kế hoạch đầu tư dài hạn. Công suất thiết bị không được khai thác hiệu quả khiến chi phí khấu hao, bảo trì và nhân công phân bổ trên mỗi sản phẩm tăng, đẩy giá thành lên cao và làm giảm sức cạnh tranh. Đây là áp lực lớn đối với doanh nghiệp cơ khí nội địa trong quá trình đổi mới công nghệ và mở rộng quy mô sản xuất.

PGS.TS. Nguyễn Hồng Sơn - nguyên Phó Trưởng Ban Chính sách, Chiến lược Trung ương nhận định, nhiều doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ Việt Nam còn hạn chế về quy mô, trình độ tự động hóa và năng lực quản trị, dẫn đến khó đáp ứng đồng thời các yêu cầu về sản lượng, chất lượng và tiến độ giao hàng của các tập đoàn lớn. Hạn chế về nguồn vốn cũng cản trở quá trình đầu tư dây chuyền hiện đại, thiết bị kiểm định và nghiên cứu phát triển sản phẩm. Trong khi đó, quy mô thị trường chưa đủ lớn, thiếu đơn hàng dài hạn khiến doanh nghiệp khó tính toán hiệu quả đầu tư, gia tăng rủi ro khi mở rộng sản xuất.

Theo ông, doanh nghiệp "đầu tàu" giữ vai trò quan trọng trong tổ chức hệ sinh thái công nghiệp. Các doanh nghiệp lớn có khả năng mở thị trường, tạo đơn hàng, thiết lập tiêu chuẩn kỹ thuật và hỗ trợ nhà cung ứng tham gia những công đoạn có giá trị gia tăng cao.

Thực tế, một số doanh nghiệp cơ khí Việt Nam đã từng bước nâng cấp năng lực khi tham gia các dự án công nghiệp lớn. Chia sẻ tại Hội nghị tăng cường nội địa hóa và phát triển hệ thống nhà cung cấp 2026 vừa qua, bà Hồ Thị Nga - Phó Tổng giám đốc Công ty Cổ phần Công nghiệp Weldcom cho biết, trước năm 2018, doanh nghiệp chủ yếu cung cấp thiết bị và dịch vụ gia công kim loại, lấy công nghệ hàn làm nền tảng. Sau khi tham gia các dự án sản xuất ô tô, Weldcom từng bước mở rộng hoạt động sang thiết kế, tích hợp và triển khai dây chuyền sản xuất thân vỏ ô tô.

Weldcom đã tham gia triển khai dây chuyền tại Hải Phòng với hơn 200 robot, sau đó mở rộng thực hiện các dự án tại Hà Tĩnh, Ấn Độ và Indonesia. Riêng năm 2025, có thời điểm Weldcom đồng thời triển khai 11 dây chuyền sản xuất thân vỏ ô tô, đòi hỏi năng lực tổ chức thi công, quản lý tiến độ và kiểm soát chất lượng ở mức cao.

"Quá trình đảm nhận các dự án lớn đặt ra yêu cầu nâng cao trình độ kỹ thuật, phát triển đội ngũ kỹ sư và năng lực tích hợp hệ thống. Chúng tôi đã và đang tập trung đầu tư nhân lực, nghiên cứu và phát triển (R&D) và cơ sở sản xuất nhằm từng bước làm chủ công nghệ, nâng cao khả năng thực hiện các dự án có yêu cầu kỹ thuật phức tạp", bà Hồ Thị Nga nhấn mạnh.

Một công nhân tại dây chuyền sản xuất mô tơ điện của nhà máy VinFast Hải Phòng. 

Ông Lương Đức Thụ - Chủ tịch Hội đồng quản trị Automech cũng cho hay, doanh nghiệp đã mở rộng sản xuất linh kiện và cụm linh kiện ô tô, phát triển ba nhà máy với hơn 1.000 nhân sự. Doanh thu năm 2025 đạt 1.500 tỷ đồng, mục tiêu năm 2026 là 2.000 tỷ đồng. Doanh nghiệp đã đạt chứng nhận hệ thống quản lý chất lượng ngành ô tô IATF 16949. Công ty cũng đang nghiên cứu phương án mở nhà máy sản xuất linh kiện tại Ấn Độ.

Tại Kimsen Industrial Corporation, ông Dương Minh Hải - Giám đốc cấp cao cho biết doanh nghiệp đang đẩy mạnh đầu tư công nghệ, nâng cấp máy móc và hoàn thiện quy trình sản xuất nhằm nâng cao năng lực tham gia chuỗi cung ứng công nghiệp ô tô. Kimsen hiện sản xuất nhiều nhóm linh kiện nhôm kỹ thuật như chi tiết khung gầm, thanh gia cường thân xe, thanh cản và vỏ nhôm pin. Đồng thời, từng bước chuyển từ gia công theo bản vẽ có sẵn sang tham gia sớm hơn vào quá trình thiết kế, đánh giá tính khả thi của sản phẩm và tối ưu quy trình sản xuất.

"Kimsen chú trọng phát triển đội ngũ nghiên cứu và phát triển (R&D), nâng cao năng lực quản trị và dự kiến đầu tư nhà máy thứ hai trong năm 2027. Đây là hướng đi nhằm gia tăng giá trị sản phẩm, mở rộng năng lực cung ứng và tham gia sâu hơn vào chuỗi sản xuất công nghiệp", ông Hải cho hay.

Thực tế tại các doanh nghiệp trên cho thấy, đơn hàng ổn định là yếu tố quan trọng thúc đẩy đầu tư công nghệ, mở rộng sản xuất và nâng cao năng lực tham gia chuỗi cung ứng. Thông qua các dự án có yêu cầu kỹ thuật cao, doanh nghiệp từng bước hoàn thiện hệ thống quản trị, phát triển đội ngũ kỹ sư và nâng cao năng lực sản xuất linh kiện. Tuy nhiên, để duy trì vị trí trong chuỗi cung ứng, doanh nghiệp phải đáp ứng các yêu cầu khắt khe về chất lượng, tiến độ và năng lực giao hàng. Mở rộng thị trường, đa dạng hóa khách hàng và từng bước làm chủ công nghệ là những yếu tố quyết định khả năng cạnh tranh lâu dài của doanh nghiệp cơ khí, linh kiện nội địa.

Về chính sách, ngày 25/5/2026, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 929/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình phát triển công nghiệp hỗ trợ giai đoạn 2026-2035. Chương trình đặt mục tiêu đến năm 2030, tỷ lệ nội địa hóa ngành cơ khí chế tạo đạt 40%, ngành ô tô đạt 22% đến 30%. Đến năm 2035, các chỉ tiêu này lần lượt nâng lên 50% và 32% đến 40%.

Đến năm 2030, chương trình dự kiến hỗ trợ khoảng 600 doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ được tư vấn, đào tạo hệ thống quản trị theo tiêu chuẩn quốc tế, trong đó khoảng 400 doanh nghiệp áp dụng thành công. Khoảng 80 doanh nghiệp được hỗ trợ nghiên cứu, phát triển và đổi mới công nghệ, trong đó 40 doanh nghiệp dự kiến ứng dụng thành công công nghệ mới.

Những mục tiêu trên đặt ra yêu cầu nâng cao hiệu quả chính sách hỗ trợ, đặc biệt là khả năng chuyển kết quả đầu tư, đào tạo và đổi mới công nghệ thành năng lực sản xuất thực tế. Bà Trần Thị Vân Anh - Phó Trưởng phòng Thể chế kinh tế, Viện Kinh tế Việt Nam và Thế giới, cho rằng chính sách công nghiệp hỗ trợ cần tập trung phát triển nhà cung ứng đạt chuẩn theo từng ngành ưu tiên.

Theo chuyên gia, chương trình hỗ trợ cần bắt đầu bằng đánh giá năng lực doanh nghiệp, phân loại mức độ sẵn sàng tham gia chuỗi cung ứng. Trên cơ sở đó, triển khai các giải pháp cải tiến sản xuất, tiêu chuẩn hóa, chứng nhận chất lượng, đào tạo nhân lực, đổi mới thiết bị và kết nối khách hàng đầu chuỗi. Hiệu quả hỗ trợ cần được đánh giá bằng hợp đồng cung ứng, chứng nhận đạt được và mức tăng năng suất, thay vì chủ yếu dựa vào số lượng doanh nghiệp tham gia các chương trình.

Nghị định số 205/2025/NĐ-CP có hiệu lực ngày 1/9/2025 đã bổ sung cơ chế hỗ trợ công nghiệp hỗ trợ, trong đó có mức hỗ trợ tối đa 50% đối với một số chi phí đầu tư thiết bị, nghiên cứu ứng dụng, chuyển giao công nghệ, thử nghiệm và chứng nhận chất lượng theo điều kiện quy định. Tuy nhiên, hiệu quả chính sách còn phụ thuộc vào khả năng tiếp cận của doanh nghiệp và mức độ phối hợp với các tập đoàn sản xuất.

Theo thông tin của Cục Công nghiệp, trong khoảng 1.000 doanh nghiệp đủ năng lực cung ứng trực tiếp cho các doanh nghiệp lắp ráp và tập đoàn đa quốc gia, doanh nghiệp nội địa chiếm khoảng 30%. Tỷ lệ này phản ánh khoảng cách lớn về năng lực tham gia chuỗi cung ứng giữa doanh nghiệp trong nước và các nhà cung cấp nước ngoài. Để thu hẹp khoảng cách, chính sách hỗ trợ cần tập trung vào những nhóm linh kiện, phụ tùng và công đoạn sản xuất có nhu cầu thị trường rõ ràng, gắn với khả năng nâng cấp của doanh nghiệp Việt Nam.

Cùng với hỗ trợ vốn và công nghệ, cơ chế chia sẻ thông tin nhu cầu mua hàng, tiêu chí lựa chọn nhà cung ứng và kế hoạch sản xuất của doanh nghiệp đầu chuỗi có ý nghĩa quan trọng. 

"Để nâng cao hiệu quả phát triển công nghiệp hỗ trợ, chính sách cần gắn hoạt động đầu tư thiết bị, đào tạo nhân lực và cải tiến sản xuất với nhu cầu thực tế của thị trường. Kết quả hỗ trợ được đánh giá thông qua số doanh nghiệp đạt tiêu chuẩn nhà cung ứng, giá trị hợp đồng được ký kết và thực hiện, mức tăng năng suất và tỷ lệ giá trị gia tăng nội địa", bà Trần Thị Vân Anh nhấn mạnh.

Đối với ngành cơ khí, linh kiện, năng lực công nghệ quyết định khả năng đáp ứng yêu cầu sản xuất, trong khi đơn hàng ổn định tạo cơ sở để doanh nghiệp đầu tư dài hạn. Giải quyết đồng thời hai yếu tố này sẽ góp phần nâng cao năng lực doanh nghiệp nội địa, mở rộng khả năng tham gia chuỗi cung ứng và tăng giá trị sản xuất trong nước.

Nguyên Thảo