Công nghệ số, chìa khóa giúp nông dân Bắc Ninh thoát nghèo, làm giàu
Trong hơn hai thập kỷ qua, Việt Nam luôn được cộng đồng quốc tế đánh giá cao về thành tựu giảm nghèo. Điểm đặc biệt là thay vì chỉ hỗ trợ mang tính trước mắt, chính sách giảm nghèo của Việt Nam được triển khai theo hướng căn cơ, bền vững, gắn với phát triển nông thôn mới và xây dựng hệ thống an sinh xã hội toàn diện.
Ông Trần Đình Long - Giám đốc Hợp tác xã Sản xuất Tiêu thụ ổi lê Tân Yên. Ảnh: Dương Đình Tường.
Chính từ nền tảng đó, nhiều địa phương đã có bước chuyển mình rõ rệt, trong đó Bắc Ninh nổi lên như một điển hình với việc ứng dụng công nghệ số vào sản xuất nông nghiệp, giúp người dân không chỉ thoát nghèo mà còn vươn lên làm giàu.
Trên mảnh vườn hơn 2.000 gốc ổi lê và 200 gốc vải thiều sớm, ông Trần Đình Long - Giám đốc Hợp tác xã Sản xuất Tiêu thụ ổi lê Tân Yên (Bắc Ninh) không còn phải lo cảnh tưới nước vất vả mỗi ngày. Hệ thống tưới thông minh được lắp đặt từ năm 2022, chỉ với một thao tác trên điện thoại, đã thay thế hoàn toàn công tưới thủ công, vừa tiết kiệm nước, công lao động, vừa đảm bảo hiệu quả.
Để xây dựng được hệ thống này Hợp tác xã (HTX) ổi lê Tân Yên nhận được sự hỗ trợ một phần kinh phí từ địa phương. Nhờ ứng dụng công nghệ, năng suất và chất lượng cây trồng được nâng cao rõ rệt. Trung bình mỗi năm, HTX cung cấp cho thị trường 200–300 tấn ổi lê, với đầu ra ổn định thông qua các hệ thống siêu thị lớn, kênh bán hàng trực tuyến và thương mại điện tử.
Phúc Hòa hiện là một trong ba xã thí điểm “xã thương mại điện tử” giai đoạn 2023–2025. Bản đồ số sản phẩm nông nghiệp gắn kết vùng sản xuất với di sản văn hóa – du lịch, tạo kênh quảng bá hiệu quả. Gần 200 gian hàng của nông dân đã lên sàn, góp phần tạo nền tảng kinh tế số, thúc đẩy quá trình xóa đói giảm nghèo tại địa phương.
Không chỉ riêng Phúc Hòa, tại nhiều xã trên địa bàn Bắc Ninh cũng đang tích cực đưa công nghệ vào nông nghiệp. Người dân sử dụng phần mềm quản lý sâu bệnh, theo dõi sinh trưởng, lập kế hoạch thu hoạch, thậm chí chủ động đưa nông sản lên các sàn thương mại điện tử như Postmart, Voso, ShopeeFarm… Nhờ vậy, nông sản không còn phụ thuộc vào thương lái, thu nhập của nông dân ngày càng ổn định, bền vững.
Thực tế cho thấy, Bắc Ninh từng đối diện khoảng cách thu nhập giữa thành thị và nông thôn. Nhưng nhờ sự vào cuộc đồng bộ của cả hệ thống chính trị, cùng với sự thay đổi nhận thức và phương thức sản xuất của người dân, tỷ lệ hộ nghèo đã giảm mạnh, thu nhập bình quân ở nông thôn ngày càng tăng. Năm 2024, thu nhập bình quân đầu người toàn tỉnh đạt khoảng 97 triệu đồng/năm, vượt mức trung bình của cả nước.
Từ những nông hộ nhỏ lẻ, manh mún, đến nay người dân đã biết liên kết, chủ động ứng dụng công nghệ và kết nối thị trường. Điều này giúp quá trình giảm nghèo ở Bắc Ninh không chỉ dừng ở con số, mà trở thành bước tiến bền vững về kinh tế – xã hội.
Giảm nghèo bền vững, chính sách công hiếm có và thành tựu đáng tự hào
Theo báo cáo mới nhất, tỷ lệ hộ nghèo cả nước theo chuẩn nghèo đa chiều đã giảm từ 5,02% (đầu năm 2021) xuống còn 1,93% (cuối năm 2024) và dự kiến cuối 2025 sẽ tiếp tục giảm thêm 0,8 – 1%. Trung bình hơn 20 năm qua, mỗi năm Việt Nam giảm được khoảng 1% hộ nghèo, một kết quả rất đáng khích lệ.
Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững là một chính sách công hiếm có, không phải quốc gia nào cũng triển khai. Ảnh: Minh họa
Nếu giai đoạn đầu giảm nghèo chủ yếu tập trung nâng thu nhập thì hiện nay, chương trình đã chuyển sang tiếp cận đa chiều: không chỉ đủ ăn mà còn chú trọng dinh dưỡng, chất lượng thực phẩm, sức khỏe cộng đồng – nhất là thanh thiếu niên, thế hệ tương lai. Đây là bước tiến lớn, phù hợp với Chương trình nghị sự 2030 của Liên Hợp quốc về phát triển bền vững.
PGS.TS Đào Thế Anh, Chủ tịch Hội Khoa học Phát triển nông thôn Việt Nam (PHANO), nguyên Phó Giám đốc Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam, khẳng định: Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững là một chính sách công hiếm có, không phải quốc gia nào cũng triển khai. Thành tựu giảm nghèo của Việt Nam được thế giới đánh giá cao, bởi ở nhiều nước, chính sách thường chỉ dừng ở hỗ trợ tiền và thực phẩm, trong khi Việt Nam có cách tiếp cận căn cơ, dài hạn.
“Giảm nghèo bền vững không chỉ là “trao cần câu” giúp người dân tự vươn lên, mà trong bối cảnh biến đổi khí hậu, thiên tai, dịch bệnh ngày càng phức tạp, cần cách tiếp cận tổng hợp, linh hoạt và có chính sách đặc thù cho nhóm yếu thế”, PGS.TS Đào Thế Anh nhấn mạnh và cho hay, trong thời gian tới, việc tích hợp Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững với xây dựng nông thôn mới sẽ giúp đồng bộ mục tiêu, tránh chồng chéo, đồng thời phát huy hiệu quả nguồn lực.
Cũng theo PGS.TS Đào Thế Anh, một trong những hướng đi quan trọng là phát triển nông nghiệp sinh thái và hệ thống lương thực thực phẩm bền vững. Không ít địa phương miền núi dù thu nhập tăng nhờ sản xuất hàng hóa, nhưng chất lượng dinh dưỡng chưa cải thiện. Do đó, cần cân bằng giữa sản xuất hàng hóa và tự cung tự cấp, phát huy giống cây trồng, vật nuôi bản địa để vừa cải thiện bữa ăn, vừa tạo sản phẩm cho thị trường. Nông nghiệp sinh thái không chỉ góp phần giảm nghèo đa chiều, mà còn mở ra cơ hội gắn kết với du lịch cộng đồng, bảo tồn văn hóa truyền thống.
Do đó, phát triển thị trường cũng không thể tách riêng cho người nghèo, mà phải triển khai chung cho cả cộng đồng, trong đó vẫn ưu tiên nhóm yếu thế. Chỉ khi hộ nghèo và hộ khá cùng hợp tác, cùng phát triển, cộng đồng mới thực sự bền vững.
PGS.TS Đào Thế Anh kỳ vọng giai đoạn 2026 – 2030 sẽ là bước chuyển quan trọng, với phương châm “cùng nhau làm giàu bền vững”, dựa trên nông nghiệp sinh thái và hệ thống lương thực thực phẩm bền vững. Đây chính là con đường để Việt Nam giảm nghèo thực chất, nâng cao chất lượng cuộc sống và bảo đảm phát triển bền vững cho các thế hệ mai sau.
Câu chuyện nông dân Bắc Ninh ứng dụng công nghệ số trong sản xuất và thương mại nông sản là minh chứng rõ ràng: khi chính sách đi vào đời sống, người dân có thể thoát nghèo, vươn lên làm giàu, đóng góp vào sự phát triển bền vững của quốc gia.