Trong khi nhiều doanh nghiệp chọn những lĩnh vực “dễ thở”, ông Hà Đức Thắng - Giám đốc Hợp tác xã sản xuất chè V-Shantea (tiểu khu Chiềng Hạ, xã Phù Yên, Sơn La) lại lặng lẽ gắn bó với cây chè Shan Tuyết hoang dã. Bảy năm bền bỉ theo đuổi nông nghiệp sạch, ông không chỉ xây dựng một thương hiệu chè chất lượng cao mà còn từng bước tạo sinh kế bền vững cho bà con vùng cao, với khát vọng gìn giữ “vàng xanh” của núi rừng cho hôm nay và mai sau.
Nhân dịp tết Nguyên đán Bính Ngọ, phóng viên Báo Công Thương đã có cuộc trao đổi với ông Hà Đức Thắng về hành trình làm chè, xây dựng thương hiệu và nâng tầm giá trị nông sản Việt ngay từ gốc.
Tạo sinh kế bền vững cho người dân
- Cơ duyên nào đưa ông đến với ngành chè, một lĩnh vực vốn được đánh giá nhiều rủi ro, lợi nhuận không cao?
Ông Hà Đức Thắng:Nông nghiệp đúng là lĩnh vực nhiều rủi ro và không dễ mang lại lợi nhuận cao. Nhưng lý do khiến tôi lựa chọn đầu tư vào ngành chè lại xuất phát từ chính cuộc sống còn nhiều khó khăn của bà con vùng trồng chè.
Chè Shan Tuyết của Hợp tác xã sản xuất chè V-Shantea. Ảnh: N.H
Thực tế, dù đây là vùng có điều kiện tự nhiên rất thuận lợi cho cây chè phát triển, nhưng đời sống của người dân vẫn nghèo và thiếu ổn định. Trong khi đó, tại Hà Nội và một số địa phương khác, ngành chè lại cho thấy sức chống chịu khá tốt, thậm chí phát triển tích cực ngay trong giai đoạn Đại dịch Covid-19. Điều này thôi thúc tôi tìm hiểu sâu hơn về ngành chè.
Khi nghiên cứu mô hình phát triển chè tại Trung Quốc, đặc biệt ở các vùng nổi tiếng như tại Vân Nam, tôi thực sự ấn tượng. Ở đó, cây chè được ví như “vàng xanh”, mang lại thu nhập cao và cuộc sống sung túc cho người dân. Hầu như không còn cảnh nghèo khó ở các vùng chè.
So sánh với thực tế trong nước, tôi nhận ra một nghịch lý, dù được Nhà nước quan tâm, hỗ trợ nhiều chính sách, nhưng đời sống bà con trồng chè ở Việt Nam vẫn chưa có nhiều chuyển biến rõ rệt. Với giá trị mà cây chè mang lại, lẽ ra cuộc sống của người dân phải ổn định và ấm no hơn. Chính từ trăn trở đó, tôi quyết định dấn thân vào ngành chè.
- Khi bắt tay vào sản xuất, theo ông đâu là “điểm nghẽn” lớn nhất của ngành chè Việt?
Ông Hà Đức Thắng: Vấn đề cốt lõi của ngành chè Việt Nam hiện nay là phần lớn các cơ sở vẫn dừng lại ở tư duy “bán bao”, tức là bán sản phẩm thô, giá trị thấp, thay vì bán “tinh hoa” của chè.
Qua khảo sát, tôi thấy đa số vùng chè trong nước do các nhà sản xuất nhỏ lẻ đảm nhiệm. Do hạn chế về công nghệ và tư duy thị trường, họ buộc phải bán chè thô sang Trung Quốc với giá rất thấp, hoặc sản xuất chè đen để xuất khẩu sang Trung Đông. Giá trị gia tăng gần như không đáng kể.
Chè được làm theo công thức sản xuất chè của vùng Vân Nam (Trung Quốc), kết hợp với phương pháp truyền thống của người bản địa Việt Nam, sau đó điều chỉnh để phù hợp với nguồn nguyên liệu địa phương. Ảnh: N.H
Có những mức giá chè thô thấp đến mức không bằng giá trị của một kg nguyên liệu tươi, nếu tiếp tục đi theo lối mòn đó, sẽ không thể cải thiện thu nhập cho người trồng chè, cũng không tạo ra giá trị bền vững cho doanh nghiệp.
Vì vậy, con đường duy nhất là phải đổi mới phương thức sản xuất, đầu tư nghiêm túc cho tri thức. Chúng tôi nghiên cứu công thức sản xuất chè của vùng Vân Nam (Trung Quốc), kết hợp với phương pháp truyền thống của người bản địa Việt Nam, sau đó điều chỉnh để phù hợp với nguồn nguyên liệu địa phương.
Từ đó, hợp tác xã đã phát triển được nhiều dòng sản phẩm như chè xanh, hồng chè phù hoa và bạch chè phù hoa, chè Phổ Nhĩ… sản phẩm không còn là chè thô, mà là chè thành phẩm có giá trị cao, thậm chí có thể sánh với nhiều dòng chè cao cấp đang tiêu thụ tại Trung Quốc.
Chính sự khác biệt này giúp chúng tôi thu hút được các đối tác, khách hàng Trung Quốc đang sinh sống tại Việt Nam và mở ra những đơn hàng giá trị cao hơn. Vì vậy, tôi kiên quyết không bán chè thô, không ký hợp đồng cung cấp nguyên liệu chưa qua chế biến.
Giữ rừng, giữ chè, giữ sinh kế bền vững
- Trong quá trình xây dựng vùng nguyên liệu chất lượng cao, những khó khăn gặp phải là gì, thưa ông?
Ông Hà Đức Thắng: Khó khăn lớn nhất là thay đổi tư duy của người dân bản địa. Với chè cao cấp, chúng tôi yêu cầu quy trình hái rất chuẩn, búp phải gọn, đúng điểm, không để cuống dài. Điều này đi ngược với tập quán canh tác đã tồn tại nhiều thế hệ.
Giải pháp của chúng tôi là nâng giá trị nguyên liệu. Chỉ những lô chè đạt chuẩn mới được thu mua với giá cao. Khi thấy thu nhập tăng lên rõ rệt, bà con sẵn sàng thay đổi cách làm.
Bên cạnh đó là tình trạng người dân tự chế biến. Theo cách truyền thống, 6 - 6,5 kg chè tươi mới cho ra 1 kg chè thành phẩm, bán được khoảng 240.000 - 250.000 đồng. Trong khi đó, nếu bán trực tiếp 6 kg chè tươi cho chúng tôi, bà con thu về khoảng 600.000 đồng, không mất thêm công chế biến.
Khi lợi ích kinh tế rõ ràng, người dân dần hình thành thói quen mới, hái đúng chuẩn, bảo vệ nguyên liệu, coi chè Shan Tuyết hoang dã là tài sản quý giá.
Chè Shan Tuyết sinh trưởng tốt ở độ cao từ 800 m trở lên. Riêng vùng Suối Tọ, nơi chúng tôi khai thác chè hoang dã, nằm ở độ cao hơn 1.600 m, khí hậu khắc nghiệt mang lại một hương vị rất riêng. Ảnh: N.H
- Theo ông, trong bối cảnh nhiều loại cây trồng cạnh tranh đất canh tác, làm sao để giữ được vùng chè Shan Tuyết?
Ông Hà Đức Thắng: Ở nhiều nơi, chè phải cạnh tranh với cây cà phê hay cây ngắn ngày. Nhưng tại vùng nguyên liệu của chúng tôi, người dân lại chủ động bảo vệ cây chè. Chè Shan Tuyết sinh trưởng tốt ở độ cao từ 800 m trở lên. Riêng vùng Suối Tọ, nơi chúng tôi khai thác chè hoang dã, nằm ở độ cao hơn 1.600 m, khí hậu khắc nghiệt, cà phê rất khó sống. Vì vậy, chè vẫn là cây trồng phù hợp và bền vững nhất.
Chúng tôi chưa khai thác chè trồng đại trà, mà chủ yếu sử dụng chè hoang dã, đồng thời hướng dẫn bà con thu hái hạt để ươm giống, trồng mở rộng quanh bản. Sau 3 - 4 năm, cây chè đã cho thu hoạch, giúp người dân có thu nhập ổn định và yên tâm gắn bó lâu dài.
- Vậy đâu là thách thức lớn nhất hiện nay đối với nông sản nói chung và ngành chè nói riêng, thưa ông?
Ông Hà Đức Thắng:Đó là đầu ra cho sản phẩm. Nhiều cơ sở có sản phẩm tốt nhưng không bán được vì thiếu kênh tiếp cận thị trường.
Tôi may mắn hơn vì trước khi sản xuất, đã có nhiều năm làm thương mại chè. Nhờ đó, hợp tác xã chủ động xây dựng các kênh bán hàng trên Shopee, TikTok, fanpage… khi thương hiệu được phủ rộng, việc bán sản phẩm không còn quá khó, kể cả với chè cao cấp.
Tôi kỳ vọng địa phương có thể xây dựng một “chợ online” chung cho các sản phẩm nông sản đặc trưng, với sự bảo trợ truyền thông của chính quyền, giúp hợp tác xã thực sự đưa sản phẩm ra thị trường.
“Thiên Hỷ” không chỉ là lời chúc năm mới
- Ông có thể chia sẻ về triết lý thương hiệu của mình?
Ông Hà Đức Thắng: Liên quan đến câu chuyện xây dựng thương hiệu, tên đầy đủ của đơn vị là Hợp tác xã sản xuất chè V-Shantea, trong đó “San” là Shan Tuyết, “Tea” là chè, còn chữ “V” đại diện cho Việt Nam. Thông qua tên gọi này, hợp tác xã mong muốn góp phần thay đổi cách nhìn của thị trường quốc tế về chè Việt. Bởi khi nhắc đến chè Việt Nam, nhiều người nước ngoài vẫn chỉ nghĩ đến chè đen xuất khẩu với giá trị và chất lượng thấp. Tôi muốn phá vỡ định kiến đó, khẳng định, Việt Nam hoàn toàn có thể sản xuất những dòng chè có giá trị cao, chất lượng thực sự và bản sắc riêng.
Ông Hà Đức Thắng - Giám đốc Hợp tác xã sản xuất chè V-Shantea. Ảnh: N.H
Sau gần hai năm tập trung nghiên cứu, hoàn thiện sản phẩm và định hình triết lý phát triển, tôi mới chính thức lựa chọn tên gọi cho hợp tác xã. Riêng với dòng sản phẩm chủ lực, bánh chè sống Thiên Hỷ, tên gọi này được hình thành từ chính giá trị cốt lõi mà sản phẩm mang lại cho người sử dụng.
Tôi cho rằng, nếu truyền thông chỉ dừng lại ở việc kể câu chuyện hay xây dựng hình ảnh đẹp, trong khi giá trị thực tế không tương xứng, người tiêu dùng sớm muộn cũng sẽ mất niềm tin. Ngược lại, khi khách hàng chủ động trải nghiệm, cảm nhận được sự thay đổi tích cực ngay sau khi sử dụng, họ sẽ hiểu, mình đã tìm được một sản phẩm thực sự chất lượng. Khi đó, chính khách hàng sẽ trở thành kênh truyền thông hiệu quả và bền vững nhất, tự lan tỏa giá trị sản phẩm đến cộng đồng.
Tên gọi Thiên Hỷ cũng xuất phát từ triết lý đó. “Thiên” là những gì thiên nhiên ban tặng mà ở đây là nguồn nguyên liệu bản địa quý giá, còn “Hỷ” là niềm vui, sự an yên mà người uống chè cảm nhận được sau mỗi lần sử dụng. Và tôi chỉ là người khai thác, gìn giữ và chế biến những giá trị mà thiên nhiên trao tặng.
Khái niệm “chè sống” được xây dựng từ đặc tính của chè Phổ Nhĩ, một loại chè lên men chậm, càng để lâu càng gia tăng giá trị. Tuy vận dụng phương pháp sản xuất của Trung Quốc, song tôi đã nghiên cứu, điều chỉnh và thay đổi rất nhiều để phù hợp với nguồn nguyên liệu, thổ nhưỡng và tư duy làm chè của người Việt. Vì vậy, đây không còn là chè Phổ Nhĩ Trung Quốc, mà là chè sống Thiên Hỷ của người Việt, mang bản sắc và dấu ấn riêng.
Chính sự khác biệt này tạo nên niềm tin, chỉ cần trải nghiệm chè một lần, người uống sẽ hiểu vì sao lại chọn tên gọi Thiên Hỷ và vì sao tôi tin tưởng con đường đang theo đuổi.
- Đầu xuân, năm mới, ông có điều gì mong muốn gửi tới người tiêu dùng và bà con nông dân?
Ông Hà Đức Thắng:Có lẽ đó là chữ “Thiên Hỷ”. Với tôi, Thiên Hỷ không chỉ là lời chúc năm mới mà là mong muốn dài lâu. Tôi mong người tiêu dùng quan tâm hơn đến sức khỏe, sử dụng nhiều sản phẩm hữu cơ, sạch, có nguồn gốc rõ ràng.
Với bà con bản địa, mong muốn lớn nhất của tôi là họ bớt vất vả, bớt nghèo và vùng nguyên liệu quý giá được bảo tồn. Vì nếu chúng ta không làm nông nghiệp một cách tử tế hôm nay, mai này con cháu sẽ không còn gì để giữ.
Còn với doanh nghiệp làm nông nghiệp, tôi tin rằng, chỉ cần đủ kiên trì, đủ tử tế và đủ niềm tin vào con đường mình chọn, nông sản Việt hoàn toàn có thể đi xa, không chỉ trong nước mà cả trên thị trường quốc tế.
Xin cảm ơn ông!
Từ những gốc chè Shan Tuyết cổ thụ giữa mây núi Phù Yên (Sơn La), sau bao mùa nắng mưa lặng lẽ, những sản phẩm chè của Hợp tác xã sản xuất chè V-Shantea đã dần kết trái bằng sự ghi nhận OCOP 3 sao. Với những người làm chè nơi đây, danh hiệu ấy không phải là đích đến, mà là dấu mốc cho một hành trình bền bỉ đi cùng cây chè bản địa, kiên nhẫn gìn giữ triết lý làm chè mộc mạc, sạch và tử tế. Khi thời gian được trao gửi trọn vẹn cho thiên nhiên và con người, giá trị cũng theo đó mà nảy nở, như mùa xuân chậm rãi nhưng bền lâu, mở ra hướng đi sâu cho những sản phẩm OCOP cao cấp mang hồn cốt nông sản Việt.