Mở lối cho quỹ đạo tăng trưởng mới
Tổng Bí thư Tô Lâm ngày 2/4 đã ký ban hành Kết luận 18-KL/TW Hội nghị lần thứ 2 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV (Hội nghị Trung ương 2) về Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, tài chính quốc gia và vay, trả nợ công, đầu tư công trung hạn 5 năm 2026-2030 gắn với thực hiện mục tiêu phấn đấu tăng trưởng hai con số.
Trong đó, về mục tiêu, chỉ tiêu, kết luận nhấn mạnh, phát triển nhanh, bền vững đất nước; phấn đấu tăng trưởng GDP bình quân đạt từ 10%/năm trở lên gắn với giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, bảo đảm các cân đối lớn; cải thiện và nâng cao toàn diện đời sống nhân dân. Thực hiện thắng lợi mục tiêu đến năm 2030, trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao, thuộc nhóm 30 nền kinh tế có quy mô GDP hàng đầu thế giới...
Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV. Ảnh: Thống Nhất/TTXVN
Trao đổi với phóng viên Báo Công Thương, PGS.TS. Trần Lê Hưng, Đại học Gustave Eiffel (Pháp) cho rằng, việc Tổng Bí thư Tô Lâm ký ban hành Kết luận 18-KL/TW đã mở ra một cách tiếp cận mới trong hoạch định chiến lược phát triển giai đoạn 2026-2030, với trọng tâm là nâng cao chất lượng tăng trưởng đi cùng với khát vọng bứt phá về quy mô nền kinh tế.
“Nếu nhìn tổng thể, đây không chỉ là một văn bản định hướng, mà còn là sự khẳng định rõ nét về tư duy phát triển trong bối cảnh Việt Nam đang bước vào giai đoạn chuyển đổi quan trọng, khi các dư địa tăng trưởng truyền thống dần thu hẹp và áp lực cạnh tranh ngày càng gia tăng”, PGS.TS. Trần Lê Hưng nhấn mạnh.
Mục tiêu tăng trưởng GDP bình quân từ 10%/năm trở lên là điểm nhấn nổi bật, phản ánh quyết tâm chính trị rất cao. Đây là mức tăng trưởng không dễ đạt được nếu đặt trong bối cảnh kinh tế thế giới đang tiềm ẩn nhiều rủi ro, từ biến động địa chính trị, xu hướng bảo hộ thương mại, cho đến áp lực lạm phát và chi phí vốn toàn cầu. Tuy nhiên, điều đáng chú ý là Kết luận 18 không đặt mục tiêu này đơn lẻ, mà gắn chặt với yêu cầu giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát và bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế. Chính sự ràng buộc này cho thấy bước tiến trong tư duy điều hành khi tăng trưởng không thể đánh đổi bằng bất ổn, mà phải được xây dựng trên nền tảng vững chắc.
PGS.TS. Trần Lê Hưng, Đại học Gustave Eiffel. Ảnh: NVCC
Theo PGS.TS. Trần Lê Hưng, trong bối cảnh hiện nay, việc duy trì kỷ luật vĩ mô trở thành yếu tố then chốt. Điều này đặt ra yêu cầu cao hơn đối với chất lượng tăng trưởng, buộc nền kinh tế phải chuyển dịch theo hướng dựa vào năng suất, khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo. Nói cách khác, để đạt được mức tăng trưởng hai con số, Việt Nam không thể tiếp tục dựa chủ yếu vào mở rộng vốn đầu tư hay khai thác tài nguyên, mà cần tạo ra những động lực mới, mang tính dài hạn và bền vững hơn.
Cơ hội bứt phá
Bên cạnh đó, một điểm đáng chú ý khác là việc xác lập mục tiêu đến năm 2030 đưa Việt Nam trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao và thuộc nhóm 30 nền kinh tế lớn nhất thế giới. Đây là những chỉ tiêu cụ thể, mang tính định lượng rõ ràng, thể hiện khát vọng vươn lên của nền kinh tế. Tuy nhiên, để đạt được mục tiêu này, Việt Nam phải giải quyết đồng thời nhiều thách thức lớn, từ nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trong nước, cải thiện chất lượng nguồn nhân lực, đến việc hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường hiện đại, hội nhập sâu rộng.
Đồng thời, bối cảnh quốc tế cũng đang tạo ra cả cơ hội và thách thức đan xen. Xu hướng dịch chuyển chuỗi cung ứng toàn cầu, chuyển đổi xanh và chuyển đổi số đang mở ra không gian phát triển mới cho Việt Nam.
Hội nghị Trung ương 2 đặt nền tảng cho quỹ đạo tăng trưởng mới, với "bốn nguyên tắc" làm trụ cột, hướng tới phát triển bền vững và nâng cao đời sống người dân. Ảnh minh họa
“Tuy nhiên, để tận dụng được cơ hội này, cần có chiến lược rõ ràng, chủ động và linh hoạt, đồng thời nâng cao năng lực nội tại của nền kinh tế. Việc tham gia sâu hơn vào các chuỗi giá trị toàn cầu không chỉ đòi hỏi năng lực sản xuất, mà còn yêu cầu cao về tiêu chuẩn, công nghệ và quản trị”, PGS.TS. Trần Lê Hưng bày tỏ.
Trong khi đó, TS. Nguyễn Thị Thu Hường, Phó Trưởng Bộ môn, phụ trách Bộ môn Logistics, Trường Đại học Công nghệ Giao thông Vận tải nhận định, từ góc độ đời sống xã hội, mục tiêu nâng cao toàn diện đời sống nhân dân được đặt song hành với tăng trưởng kinh tế cho thấy sự nhất quán trong định hướng phát triển bao trùm.
“Tăng trưởng kinh tế chỉ thực sự có ý nghĩa khi được chuyển hóa thành chất lượng sống tốt hơn cho người dân, từ thu nhập, việc làm đến tiếp cận các dịch vụ cơ bản như y tế, giáo dục và an sinh xã hội. Điều này đòi hỏi các chính sách phát triển phải bảo đảm tính bao trùm, không để ai bị bỏ lại phía sau”, TS. Nguyễn Thị Thu Hường cho biết.
Kết luận 18 đã xác lập quỹ đạo phát triển mới, trong đó tăng trưởng nhanh phải đi đôi với bền vững, ổn định và nâng cao chất lượng. Đây là lựa chọn không dễ, nhưng là yêu cầu tất yếu trong giai đoạn phát triển hiện nay của Việt Nam. Vấn đề cốt lõi không nằm ở việc mục tiêu có cao hay không, mà ở năng lực tổ chức thực hiện, ở mức độ quyết liệt của cải cách và ở khả năng chuyển hóa chủ trương thành hành động cụ thể.
“Nếu làm được điều đó, mục tiêu tăng trưởng hai con số sẽ không chỉ là con số mang tính kỳ vọng, mà có thể trở thành động lực thúc đẩy nền kinh tế chuyển mình mạnh mẽ hơn, tiến gần hơn tới mục tiêu trở thành một nền kinh tế có vị thế cao hơn trong khu vực và trên thế giới. Ngược lại, nếu thiếu sự đồng bộ trong thực thi, mục tiêu này sẽ tạo ra áp lực không nhỏ đối với điều hành vĩ mô. Chính vì vậy, Kết luận 18 không chỉ đặt ra yêu cầu về kết quả, mà còn là phép thử đối với năng lực quản trị quốc gia trong giai đoạn mới”, TS. Nguyễn Thị Thu Hường nhấn mạnh.
Kết luận 18 xác định rõ định hướng chuyển đổi theo hướng lấy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chủ yếu. Nền kinh tế được cơ cấu lại toàn diện, vừa làm mới các động lực tăng trưởng truyền thống như đầu tư, tiêu dùng, xuất khẩu, vừa phát triển mạnh các ngành, lĩnh vực và mô hình kinh tế mới. Trọng tâm là xây dựng nền công nghiệp quốc gia hiện đại, nâng cao năng lực cạnh tranh của các ngành công nghiệp nền tảng như năng lượng, cơ khí chế tạo, vật liệu mới, công nghệ số, sinh học…