Theo số liệu thống kê của Cục Hải quan Việt Nam, xuất khẩu thủy sản của Việt Nam tháng 1/2026 đạt 1,01 tỷ USD, tăng 30,7% so với tháng 1/2025. Trong tháng 1/2026, Trung Quốc, Nhật Bản, Hoa Kỳ, Hàn Quốc, Thái Lan, Úc, Brazil là những thị trường xuất khẩu thủy sản lớn nhất của Việt Nam, các thị trường này chiếm 68,71% tổng xuất khẩu thủy sản tháng 01/2026.
Xuất khẩu thủy sản sang các thị trường này đều tăng trưởng, trong đó tăng mạnh nhất tới thị trường Brazil với mức tăng 113,3%, tiếp đến Thái Lan tăng 37,9%, Trung Quốc tăng 35,8% so với cùng kỳ năm 2025. Xuất khẩu tới nhiều thị trường khác cũng đạt tốc độ tăng trưởng so với cùng kỳ năm 2025 như: Anh, Đài Loan (Trung Quốc), Đức, Canada, Hà Lan, Nga, Hồng Kông (Trung Quốc), Malaysia...
Năm 2026, ngành thủy sản của Việt Nam đặt mục tiêu kim ngạch xuất khẩu 11,5 tỷ USD. Ảnh minh hoạ
Năm 2025, kim ngạch xuất khẩu thủy sản nước ta đạt hơn 11,3 tỷ USD, tăng hơn 12% so với năm 2024, lần đầu tiên vượt mốc 11 tỷ USD thiết lập kỷ lục mới. Đây được xem là kết quả ấn tượng trong bối cảnh lạm phát toàn cầu còn dai dẳng, xung đột địa chính trị chưa lắng dịu, chi phí logistics biến động và xu hướng bảo hộ thương mại gia tăng tại nhiều thị trường lớn. Trong đó, tôm tiếp tục là mặt hàng trụ cột với 4,6 tỷ USD (tăng 19%), chiếm 41% tổng kim ngạch, cá tra đạt 2,2 tỷ USD (tăng 7,5%).
Bước sang năm 2026, trên nền tảng kỷ lục hơn 11,3 tỷ USD đã đạt được, ngành thủy sản đặt mục tiêu kim ngạch xuất khẩu 11,5 tỷ USD không chỉ là con số tăng trưởng đơn thuần mà còn là cột mốc mở đầu cho giai đoạn tăng tốc 2026 - 2030 theo hướng bền vững. Toàn ngành phấn đấu đạt tổng sản lượng thủy sản trên 10 triệu tấn, trong đó nuôi trồng khoảng 6,25 triệu tấn và khai thác 3,75 triệu tấn, đồng thời đẩy mạnh chế biến sâu, chuyển đổi xanh và quyết liệt gỡ “thẻ vàng” IUU.
Trong tháng 1/2026, xuất khẩu thủy sản đã tăng trưởng tốt so với cùng kỳ năm 2025. Tuy nhiên, xuất khẩu thủy sản trong thời gian tới sẽ phải đối mặt với những áp lực gia tăng từ các vấn đề thuế quan cũng như chi phí tuân thủ các quy định mới tại những thị trường lớn như Hoa Kỳ và EU, nhu cầu thị trường thế giới phục hồi chậm, hàng loạt sức ép mới liên quan đến thuế, tiêu chuẩn kỹ thuật, chi phí tuân thủ và các rào cản thủ tục ngày càng phức tạp... Các yếu tố bất lợi này sẽ tác động nhiều tới khả năng cạnh tranh của thủy sản Việt Nam trong thời gian tới.
Theo số liệu từ Cơ quan Thống kê châu Âu (Eurostat), nhập khẩu hàng thủy sản của EU từ các thị trường ngoại khối trong 11 tháng năm 2025 đạt 5,1 triệu tấn, trị giá 27,98 tỷ EUR (tương đương 33,19 tỷ USD), tăng 6,1% về lượng và tăng 6,3% về trị giá so với so với cùng kỳ năm 2024. Trong đó, các thị trường ngoại khối cung cấp thủy sản lớn cho EU là: Na Uy, Ecuador, Maroc, Trung Quốc, Anh, Băng Đảo, Ấn Độ, Hoa Kỳ, Việt Nam, Thổ Nhĩ Kỳ. Trong đó, EU tăng nhập khẩu thủy sản từ nhiều thị trường và cũng tăng nhập khẩu thủy sản từ Việt Nam, với mức tăng 12,4% về lượng và tăng 12,8% về trị giá so với cùng kỳ năm 2024. Thị phần thủy sản của Việt Nam trong tổng nhập khẩu của EU từ các thị trường ngoại khối tăng từ 3,58% về lượng và 2,83% về trị giá trong 11 tháng năm 2024 lên 3,79% về lượng và 3% về trị giá trong 11 tháng năm 2025.
Nhu cầu tiêu thụ hàng thủy sản tại EU vẫn tăng sẽ tạo cơ hội cho nhiều thị trường cung cấp, trong đó có Việt Nam. EU vẫn là một trong những thị trường nhập khẩu thủy sản lớn, nhu cầu tiêu thụ bình quân đầu người là 24,5 kg/năm, và là điểm đến an toàn, ít rủi ro về chính sách hơn so với một số thị trường khác. EU vẫn có xu hướng ưa chuộng các sản phẩm chế biến sâu, có giá trị gia tăng cao và tiện lợi. Đây là phân khúc mà các doanh nghiệp Việt Nam có lợi thế.