Đóng

PGS.TS Bùi Hoài Sơn: Nghệ thuật biểu diễn cần được xem là ngành kinh tế sáng tạo có sức lan tỏa cao

Một chương trình nghệ thuật biểu diễn thành công có thể góp phần định vị thương hiệu thành phố, thu hút du khách, kích thích thị trường tiêu dùng văn hóa lành mạnh.

Nghệ thuật biểu diễn là một trong 10 lĩnh vực chủ chốt được ưu tiên phát triển của ngành công nghiệp văn hóa. Trong bối cảnh ngành công nghiệp văn hóa ngày càng phát triển, lĩnh vực này không chỉ góp phần làm phong phú đời sống tinh thần mà còn giữ vai trò quan trọng trong sáng tạo nội dung, lan tỏa bản sắc văn hóa và kết nối các thị trường.

PGS.TS Bùi Hoài Sơn - đại biểu Quốc hội, Phó Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương đã có những chia sẻ với phóng viên Báo Công Thương về tiềm năng, các giải pháp khơi thông nguồn lực thúc đẩy phát triển nghệ thuật biểu diễn, cũng như công nghiệp văn hóa.

Nghệ thuật biểu diễn là một trong những lĩnh vực chủ chốt của ngành công nghiệp văn hóa.

Hình thành hệ sinh thái chuyên nghiệp

- Qua ‘sức nóng’ từ hai đêm diễn của nhóm nhạc BigBang (Hàn Quốc) tại Hà Nội mới đây, ông đánh giá như thế nào về tiềm năng phát triển của thị trường nghệ thuật biểu diễn Việt Nam và khả năng đóng góp của lĩnh vực này đối với ngành công nghiệp văn hóa?

PGS.TS Bùi Hoài Sơn: Tôi cho rằng, hai đêm biểu diễn của nhóm nhạc BigBang mới đây đem đến một tín hiệu rất đáng chú ý: Việt Nam không chỉ có công chúng yêu âm nhạc đông đảo, mà đang từng bước hình thành một thị trường sẵn sàng chi trả cho những trải nghiệm văn hóa chất lượng cao.

Tôi muốn nhấn mạnh một điều: Không nên đồng nhất "sức nóng" của một đại nhạc hội với sự trưởng thành của cả ngành công nghiệp biểu diễn. Một sự kiện đông khán giả là dấu hiệu tích cực; còn một ngành công nghiệp bền vững phải có thị trường ổn định, doanh nghiệp đủ năng lực, nghệ sĩ và sản phẩm mang thương hiệu, cơ sở hạ tầng phù hợp, hệ thống bản quyền minh bạch và khả năng tổ chức các chuỗi sự kiện thường xuyên.

Để làm được điều đó, cần kết nối ngay từ khâu thiết kế sự kiện giữa đơn vị biểu diễn với doanh nghiệp du lịch, hàng không, khách sạn, vận tải, thương mại, ẩm thực và các cơ sở sáng tạo. Chẳng hạn, người đến Hà Nội xem sự kiện nghệ thuật biểu diễn có thể được giới thiệu những hành trình trải nghiệm di sản, phố đi bộ, ẩm thực, bảo tàng, không gian sáng tạo... Một tấm vé xem nhạc, nếu được kết nối tốt, có thể mở ra một chuyến du lịch hai hoặc ba ngày, qua đó tạo thêm việc làm, doanh thu và cơ hội quảng bá hình ảnh địa phương.

- Thị trường biểu diễn Việt Nam đang ngày càng sôi động, song vẫn còn những hạn chế về quy mô, năng lực tổ chức, bản quyền và sự liên kết giữa các mắt xích trong chuỗi giá trị. Vậy, đâu là những điểm nghẽn cần tháo gỡ để hình thành hệ sinh thái biểu diễn hiện đại, thưa ông?

PGS.TS Bùi Hoài Sơn: Trước hết là hạ tầng. Chúng ta đã có khả năng tổ chức những chương trình rất lớn, nhưng vẫn thiếu mạng lưới địa điểm biểu diễn đa năng, được thiết kế đồng bộ về âm thanh, ánh sáng, sức chứa, hậu cần, giao thông, khả năng tiếp cận của người khuyết tật và tiêu chuẩn an toàn. Một sân vận động có thể phù hợp cho một đại nhạc hội lớn nhưng không thể thay thế toàn bộ hệ thống nhà hát, trung tâm biểu diễn, sân khấu ngoài trời và không gian sáng tạo cần có ở các đô thị. Khi hạ tầng thiếu và chi phí chuyển đổi công năng cao, rất khó duy trì lịch diễn quanh năm.

Thứ hai là thể chế và phương thức quản lý. Doanh nghiệp cần một môi trường pháp lý ổn định, thủ tục rõ ràng, thời hạn xử lý có thể dự đoán được và cơ chế phối hợp liên ngành hiệu quả, từ văn hóa, xây dựng, giao thông đến phòng cháy, chữa cháy và an ninh trật tự. Theo đó, cần tiếp tục số hóa quy trình, phân định trách nhiệm minh bạch, chuyển mạnh sang quản lý theo mức độ rủi ro và hậu kiểm có trọng tâm, nhưng không được xem nhẹ an toàn của người tham dự. Một hệ sinh thái chuyên nghiệp, hiện đại phải vừa thông thoáng cho sáng tạo, vừa bảo vệ được quyền lợi của công chúng.

Thứ ba là bản quyền, quyền liên quan và chất lượng của thị trường giao dịch. Giá trị của một chương trình không chỉ nằm ở vé vào cửa mà còn ở tác phẩm âm nhạc, bản ghi, hình ảnh biểu diễn, quyền khai thác nội dung trên nền tảng số và sản phẩm thương mại đi kèm. Nếu quyền sở hữu trí tuệ không được xác lập, cấp phép và phân chia lợi ích minh bạch, người sáng tạo khó sống bằng nghề, còn nhà đầu tư khó tính toán hiệu quả dài hạn.

Thứ tư là sự thiếu liên kết và nhân lực chuyên sâu. Một chương trình nghệ thuật đòi hỏi nhiều nghề cùng vận hành: quản lý nghệ sĩ, sản xuất nội dung, đạo diễn sân khấu, kỹ thuật âm thanh - ánh sáng, quản trị khán giả, pháp lý bản quyền, tiếp thị, phân tích dữ liệu, tổ chức tour diễn và quản lý rủi ro. Nhiều doanh nghiệp có sức sáng tạo nhưng quy mô nhỏ, chưa đủ năng lực đi đường dài; mối liên kết giữa doanh nghiệp tổ chức biểu diễn, địa phương và ngành du lịch còn mang tính thời vụ.

PGS.TS Bùi Hoài Sơn - đại biểu Quốc hội, Phó Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương.

Hoàn thiện thể chế, phát huy sức mạnh mềm quốc gia

- Nghị quyết số 80-NQ/TW về phát triển văn hóa Việt Nam đặt mục tiêu các ngành công nghiệp văn hóa đóng góp 7% GDP vào năm 2030 và hướng tới 9% GDP vào năm 2045. Nhằm góp phần hiện thực hóa mục tiêu này, lĩnh vực nghệ thuật biểu diễn cần phát huy vai trò như thế nào, thưa ông?

PGS.TS Bùi Hoài Sơn: Việc đặt mục tiêu công nghiệp văn hóa đóng góp 7% GDP vào năm 2030, tiến tới 9% GDP vào năm 2045 là một yêu cầu phát triển có thể đo lường, đồng thời thể hiện sự chuyển biến rất quan trọng trong tư duy: văn hóa không chỉ là lĩnh vực cần được đầu tư đển gìn giữ và nâng cao đời sống tinh thần, mà còn có khả năng trực tiếp tạo ra của cải, việc làm, thị trường và sức mạnh mềm quốc gia.

Trong bức tranh ấy, tôi cho rằng, nghệ thuật biểu diễn cần được nhìn nhận như một ngành kinh tế sáng tạo có tính lan tỏa cao, chứ không chỉ là hoạt động phục vụ các ngày lễ, sự kiện hay nhu cầu giải trí đơn lẻ. Đây là lĩnh vực có khả năng kết nối rất nhanh giữa sáng tạo nghệ thuật với công nghệ, truyền thông, quảng cáo, thiết kế, thời trang, du lịch, thương mại điện tử và kinh tế ban đêm. Đặc biệt, một chương trình biểu diễn thành công có thể góp phần định vị thương hiệu thành phố, thu hút du khách, mở rộng giao lưu quốc tế và kích thích thị trường tiêu dùng văn hóa lành mạnh.

Tuy nhiên, phát huy vai trò ấy phải được triển khai theo cả chiều rộng lẫn chiều sâu. Ở tầm quốc gia và các đô thị lớn, cần hình thành những thương hiệu lễ hội, liên hoan âm nhạc và chuỗi biểu diễn có khả năng xuất hiện thường xuyên trên bản đồ tour diễn khu vực, cạnh tranh bằng chất lượng tổ chức và trải nghiệm. Ở các địa phương, cần lựa chọn sản phẩm nghệ thuật tiêu biểu gắn với bản sắc, di sản và lợi thế du lịch, tránh chạy theo phong trào, đầu tư trùng lặp hoặc tổ chức sự kiện hoành tráng nhưng thiếu hiệu quả sau đó. Song song với việc đón những chương trình quốc tế là đầu tư cho khâu sáng tác, đào tạo tài năng, sản xuất chương trình và đưa tác phẩm, nghệ sĩ Việt Nam ra thị trường nước ngoài.

- Dự thảo Luật Phát triển công nghiệp văn hóa được kỳ vọng tạo hành lang pháp lý cho các ngành công nghiệp văn hóa phát triển. Theo ông, Luật cần có những cơ chế, chính sách đột phá nào để khơi thông nguồn lực, góp phần thúc đẩy nghệ thuật biểu diễn, cũng như công nghiệp văn hóa?

PGS.TS Bùi Hoài Sơn: Trước hết, Luật Phát triển công nghiệp văn hóa cần mở đường cho phát triển hạ tầng và huy động vốn dài hạn. Đối với nghệ thuật biểu diễn, đây là các trung tâm biểu diễn đa năng, nhà hát hiện đại, tổ hợp sáng tạo, không gian công cộng đủ điều kiện tổ chức sự kiện, cùng hạ tầng bán vé và khai thác nội dung số. Cần có cơ chế khả thi để hợp tác công - tư, thuê và khai thác tài sản công đúng pháp luật, sử dụng đất và tiếp cận tín dụng phù hợp với đặc thù ngành; đồng thời quy định rõ tiêu chí lựa chọn dự án, phương thức định giá, công khai hiệu quả đầu tư và trách nhiệm giải trình, tránh ưu đãi dàn trải hoặc thất thoát nguồn lực.

Thứ hai, phải coi quyền sở hữu trí tuệ là tài sản kinh tế thực sự. Tôi mong Luật làm rõ hơn cơ chế hỗ trợ xác lập, đăng ký, định giá, giao dịch, cấp phép và bảo vệ quyền đối với tác phẩm, bản ghi, chương trình biểu diễn, hình ảnh và các sản phẩm sáng tạo trên môi trường số; thúc đẩy công nghệ nhận diện, truy xuất sử dụng và phân chia doanh thu minh bạch. Phải bảo vệ được quyền lợi chính đáng của nhạc sĩ, nghệ sĩ biểu diễn, nhà sản xuất và doanh nghiệp đầu tư. Khi quyền được bảo vệ và có thể thương mại hóa minh bạch, sáng tạo mới thực sự trở thành nguồn vốn.

Thứ ba, cần cơ chế tài chính và hỗ trợ có trọng tâm cho doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ, doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo và đơn vị sản xuất tác phẩm Việt Nam có tiềm năng. Có thể nghiên cứu cơ chế đồng đầu tư, bảo lãnh hoặc chia sẻ một phần rủi ro cho các dự án được lựa chọn theo tiêu chí minh bạch; các ưu đãi về thuế, phí hoặc tín dụng phải có thời hạn, có điều kiện và gắn với kết quả thực chất như sản phẩm mới, việc làm sáng tạo, doanh thu xuất khẩu, quyền sở hữu trí tuệ được hình thành. Cùng với đó là đặt hàng, đấu thầu hoặc hỗ trợ sáng tạo tác phẩm có giá trị nghệ thuật, bảo đảm hài hòa giữa hiệu quả kinh tế và nhiệm vụ phục vụ công chúng.

Thứ tư, Luật cần tạo môi trường thuận lợi cho những mô hình kinh doanh và công nghệ mới, từ nền tảng phân phối nhạc và vé điện tử đến sân khấu thực tế mở rộng, công nghệ trình diễn, dữ liệu người xem và các hình thức sáng tạo có sử dụng trí tuệ nhân tạo. Với mô hình mới chưa có quy định rõ, có thể cân nhắc cơ chế thử nghiệm có kiểm soát, xác định giới hạn, thời gian và trách nhiệm cụ thể, thay vì để doanh nghiệp đứng trước lựa chọn hoặc không được làm, hoặc phải chấp nhận rủi ro pháp lý quá lớn. Song hành với đổi mới là cơ chế bảo vệ dữ liệu, quyền tác giả, quyền lợi người tiêu dùng và an toàn sự kiện.

Thứ năm, cần thiết kế chính sách phát triển nhân lực, xúc tiến thương mại, xây dựng thương hiệu quốc gia và liên kết vùng như những cấu phần của cùng một hệ sinh thái. Một thị trường biểu diễn mạnh cần trường đào tạo, doanh nghiệp sản xuất, nghệ sĩ, tổ chức quản lý quyền, nhà đầu tư, nền tảng phân phối và doanh nghiệp du lịch cùng lớn lên.

 - Xin cảm ơn ông!

Theo PGS.TS Bùi Hoài Sơn, việc tổ chức một chương trình nghệ thuật biểu diễn quốc tế tại Việt Nam không chỉ mang lại doanh thu từ dịch vụ và kinh nghiệm tổ chức, mà quan trọng hơn về lâu dài là tạo điều kiện để doanh nghiệp Việt Nam làm chủ các khâu sản xuất, kỹ thuật, phân phối đồng thời sở hữu và khai thác tài sản trí tuệ của chính mình.

Bảo Thoa (thực hiện)