Đóng

Tận dụng Hiệp định RCEP: Định vị thương hiệu Việt trong chuỗi giá trị toàn cầu

Hiệp định RCEP tạo điều kiện để hàng hóa, doanh nghiệp Việt Nam khẳng định thương hiệu, tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng khu vực và toàn cầu.

Hiệp định Đối tác kinh tế toàn diện khu vực (RCEP) kết nối các nền kinh tế hàng đầu thế giới, đồng thời tạo thuận lợi trong đa dạng hóa nguồn nguyên liệu và phát triển chuỗi cung ứng nhờ áp dụng một bộ quy tắc xuất xứ thống nhất. 

Ông Nguyễn Cảnh Cường - Chuyên gia kinh tế, thương mại quốc tế, nguyên Tham tán Thương mại Việt Nam tại Pháp, EU và Vương quốc Anh đã có những trao đổi về cơ hội xây dựng thương hiệu cho hàng hóa Việt Nam khi tham gia Hiệp định RCEP.

Hàng hóa Việt Nam rộng mở cơ hội tiếp cận nhiều thị trường tiềm năng khi tham gia Hiệp định RCEP.

Mở rộng thị trường xuất khẩu

- Thưa ông, tham gia Hiệp định RCEP đã mở ra những cơ hội như thế nào để hàng hóa Việt Nam không chỉ mở rộng xuất khẩu mà còn từng bước xây dựng và định vị thương hiệu tại các thị trường lớn trong khu vực?

Ông Nguyễn Cảnh Cường: Theo tôi, Hiệp định RCEP mở ra cho Việt Nam một cơ hội rất lớn, nhưng cần nhìn RCEP không chỉ như một hiệp định giảm thuế, mà như một không gian sản xuất, thương mại và xây dựng thương hiệu chung của khu vực châu Á - Thái Bình Dương.

Như chúng ta biết, RCEP quy tụ 15 nền kinh tế, trong đó có những thị trường và trung tâm sản xuất lớn như Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Australia và các nước ASEAN. Cơ hội trước hết là mở rộng thị trường xuất khẩu. Nhưng theo tôi, lợi ích chiến lược hơn nằm ở quy tắc xuất xứ chung và cơ chế cộng gộp xuất xứ, tạo điều kiện để doanh nghiệp Việt Nam sử dụng nguyên liệu, linh kiện từ các nước thành viên và tham gia thuận lợi hơn vào chuỗi cung ứng khu vực.

Đây cũng là cơ hội để Việt Nam chuyển từ vị trí “nơi sản xuất” sang “mắt xích có giá trị cao hơn” trong chuỗi cung ứng. Nếu tận dụng tốt, RCEP có thể thúc đẩy công nghiệp hỗ trợ, thu hút đầu tư, phát triển sản xuất và nâng tỷ lệ giá trị gia tăng tạo ra tại Việt Nam.

Tuy nhiên, đi được vào thị trường không đồng nghĩa với có thương hiệu trên thị trường. Nếu doanh nghiệp chủ yếu xuất khẩu nguyên liệu, gia công hoặc OEM cho thương hiệu nước ngoài thì phần giá trị chúng ta giữ lại vẫn hạn chế.

Vì vậy, muốn xây dựng thương hiệu, doanh nghiệp phải tiến thêm một bước: làm chủ sản phẩm, tiêu chuẩn, thiết kế, công nghệ, marketing, phân phối và dịch vụ sau bán hàng. Khi đó, “Made in Vietnam” không chỉ là dấu hiệu xuất xứ mà phải trở thành dấu hiệu của chất lượng, độ tin cậy và giá trị riêng.

Tôi cho rằng, có thể nhìn việc tận dụng RCEP qua ba cấp độ: xuất khẩu nhiều hơn; tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng; và xây dựng thương hiệu để giữ lại nhiều giá trị hơn tại Việt Nam. Nếu chỉ dừng ở cấp độ đầu tiên, RCEP mới đem lại lợi ích về lượng. Tiến tới cấp độ thứ ba, RCEP mới thực sự trở thành động lực nâng cao chất lượng tăng trưởng và năng lực cạnh tranh dài hạn của Việt Nam.

- Trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng gay gắt trên “sân chơi” RCEP, khi lợi thế về giá không còn là yếu tố quyết định duy nhất, doanh nghiệp Việt Nam cần thay đổi tư duy và đầu tư như thế nào vào chất lượng, thiết kế, quảng bá để tạo dựng thương hiệu bền vững?

Ông Nguyễn Cảnh Cường: Theo tôi, doanh nghiệp Việt Nam cần chuyển từ tư duy “bán được hàng” sang “tạo ra giá trị và xây dựng thương hiệu”. Giá thấp có thể giúp thâm nhập thị trường, nhưng rất khó tạo ra lợi thế bền vững.

Thứ nhất, chất lượng phải là điều kiện tiên quyết. Doanh nghiệp cần đầu tư thực chất vào tiêu chuẩn sản xuất, kiểm soát chất lượng, an toàn sản phẩm và khả năng đáp ứng yêu cầu của từng thị trường. Không nên chỉ làm để “đạt chuẩn xuất khẩu”, mà phải xây dựng chất lượng ổn định ngay từ đầu chuỗi sản xuất.

Thứ hai, phải coi nguồn gốc và tính minh bạch là một phần của giá trị thương hiệu. Người tiêu dùng ngày càng quan tâm sản phẩm đến từ đâu, được sản xuất như thế nào và có bền vững hay không. Vì vậy, truy xuất nguồn gốc, quản trị vùng nguyên liệu và kiểm soát nhà cung cấp cần trở thành năng lực cốt lõi.

Thứ ba, doanh nghiệp phải đầu tư nhiều hơn vào thiết kế và đổi mới sản phẩm. Đây là khâu quyết định giá trị gia tăng nhưng còn yếu ở nhiều doanh nghiệp Việt Nam. Cần chuyển từ “sản xuất cái mình có” sang “thiết kế cái thị trường cần”.

Thứ tư, phải xây dựng chuỗi cung ứng có khả năng chống chịu, chứ không chỉ tối ưu chi phí. Chủ động hơn về nguyên liệu, nhà cung cấp, logistics, dữ liệu và công nghệ sẽ giúp doanh nghiệp vừa giảm rủi ro vừa nâng cao giá trị sản phẩm.

Cuối cùng là truyền thông thương hiệu. Doanh nghiệp không nên chỉ nói về giá, mà phải kể được câu chuyện về chất lượng, nguồn gốc, công nghệ, văn hóa và trách nhiệm của sản phẩm. Nhưng cũng cần nhớ: không thể dùng marketing để bù đắp cho chất lượng kém. RCEP mở ra thị trường, nhưng doanh nghiệp phải tự quyết định mình cạnh tranh bằng giá hay bằng giá trị.

Ông Nguyễn Cảnh Cường - Chuyên gia kinh tế, thương mại quốc tế, nguyên Tham tán Thương mại Việt Nam tại Pháp, EU và Vương quốc Anh.

 Biến lợi thế xuất khẩu thành thương hiệu

- Đến nay, theo ông, đâu là những ngành hàng hoặc nhóm sản phẩm của Việt Nam có nhiều tiềm năng tạo dấu ấn thương hiệu tại thị trường các nước thành viên RCEP?

Ông Nguyễn Cảnh Cường: Việt Nam có tiềm năng ở nhiều nhóm sản phẩm, nhưng cần phân biệt lợi thế xuất khẩu với khả năng xây dựng thương hiệu. Những nhóm có triển vọng nhất là nông sản. thực phẩm và đồ uống; dệt may, da giày và thời trang; đồ gỗ, nội thất; sản phẩm thủ công, tiêu dùng và một số lĩnh vực công nghệ, công nghiệp hỗ trợ.

Trong đó, nông sản, thực phẩm và đồ uống có lợi thế rõ về nguồn nguyên liệu và bản sắc. Vấn đề là chúng ta cần chuyển từ xuất khẩu nguyên liệu sang sản phẩm chế biến sâu có thương hiệu. Cà phê, trái cây, thủy sản hay thực phẩm Việt Nam không chỉ nên được biết đến vì sản lượng mà phải được nhận diện bằng chất lượng và câu chuyện riêng.

Dệt may, da giày và đồ gỗ có năng lực sản xuất tốt, nhưng muốn xây dựng thương hiệu phải tiến lên các khâu có giá trị gia tăng cao hơn như thiết kế, phát triển sản phẩm, sở hữu trí tuệ và phân phối. Đối với điện tử và công nghiệp hỗ trợ, đây là bài toán dài hạn. Việt Nam cần tăng tỷ lệ doanh nghiệp nội địa tham gia vào thiết kế, R&D, linh kiện và các khâu tạo giá trị cao hơn, thay vì chỉ làm gia công.

- Để tận dụng tốt hơn RCEP nhằm đưa thương hiệu Việt vươn ra thị trường toàn cầu, theo ông, cần thêm những chính sách và giải pháp hỗ trợ nào cho doanh nghiệp?

Ông Nguyễn Cảnh Cường: Theo tôi, Nhà nước cần chuyển từ tư duy “hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu” sang “hỗ trợ doanh nghiệp xây dựng vị thế và giá trị thương hiệu trên thị trường quốc tế”.

Trước hết, cần nâng tầm xúc tiến thương hiệu quốc gia. Theo đó, thương hiệu quốc gia không nên chỉ là một chương trình quảng bá, mà phải góp phần tạo dựng nhận diện nhất quán về chất lượng, đổi mới sáng tạo, trách nhiệm và độ tin cậy của hàng Việt Nam.

Thứ hai, cần xây dựng hệ thống thông tin thị trường dựa trên dữ liệu, giúp doanh nghiệp biết thị trường nào có tiềm năng, người tiêu dùng cần gì, tiêu chuẩn nào phải đáp ứng và kênh phân phối nào phù hợp. Xúc tiến thương mại cần chuyển từ “đưa doanh nghiệp đi hội chợ” sang “tìm đúng khách hàng, đúng phân khúc và đúng đối tác”.

Thứ ba, cần phát huy mạnh hơn vai trò của hệ thống Thương vụ Việt Nam ở nước ngoài. Theo tôi, Thương vụ không chỉ nên là nơi cung cấp thông tin, mà phải trở thành “trạm tiền phương” hỗ trợ doanh nghiệp Việt Nam tại thị trường sở tại.

Thương vụ có thể tập trung vào bốn nhiệm vụ: cảnh báo sớm về chính sách và rủi ro; kết nối doanh nghiệp với nhà nhập khẩu và hệ thống phân phối; hỗ trợ quảng bá thương hiệu Việt; hỗ trợ doanh nghiệp xử lý các vấn đề phát sinh trên thị trường.

Đồng thời, cần kết nối chặt chẽ hơn giữa: thương vụ - hiệp hội ngành hàng - địa phương - doanh nghiệp - hệ thống phân phối quốc tế nhằm tạo thành một chuỗi hỗ trợ liên tục.

Từ thực tế hiện nay, Nhà nước không thể làm thay doanh nghiệp, nhưng có thể tạo ra “đường cao tốc” để doanh nghiệp đi nhanh hơn. RCEP có thể là bước đầu để doanh nghiệp chinh phục các thị trường trong khu vực, nâng cấp năng lực và sau đó tiến ra các thị trường toàn cầu.

Vì vậy, thước đo cuối cùng của chính sách xúc tiến không nên chỉ là số cuộc gặp hay số hợp đồng, mà phải là bao nhiêu thương hiệu Việt đứng vững được trên thị trường quốc tế và bao nhiêu giá trị gia tăng được giữ lại ở Việt Nam.

Xin cảm ơn ông!

Theo chuyên gia kinh tế, thương mại quốc tế Nguyễn Cảnh Cường, để biến lợi thế xuất khẩu thành thương hiệu, doanh nghiệp cần làm tốt năm việc: chọn đúng thị trường và phân khúc; đầu tư vào thương hiệu và sở hữu trí tuệ; nâng tỷ lệ giá trị gia tăng tại Việt Nam; bảo đảm chất lượng và truy xuất nguồn gốc; chủ động tiếp cận người tiêu dùng thông qua các kênh phân phối và nền tảng số.

Hoa Quỳnh - Trần Khoa (thực hiện)