Buổi chiều ở một khu rẫy ven hồ Ia Krang (xã Ia Hrung, tỉnh Gia Lai), khi nắng bắt đầu dịu xuống, những bóng người lặng lẽ men theo triền đồi. Không ồn ào, không vội vã, họ ngước mắt tìm kiếm trên những tán cây, nơi những “tổ vàng” của núi rừng đang ẩn mình. Với người Jrai, đó không chỉ là thức ăn, mà còn là một phần ký ức gắn với rừng.
Không đi từ tờ mờ sáng như nhiều người, chúng tôi theo chân anh Rơ Châm Djin (làng Breng 1, xã Ia Hrung) vào rừng khi nắng đã ngả chiều. Con đường đất đỏ dẫn vào rẫy loang lổ dấu bánh xe, hai bên là những triền cây đang thay lá. Gió khô thổi qua, mang theo mùi ngai ngái của đất và lá mục, thứ hương rất riêng của mùa khô Tây Nguyên.
“Đi giờ này kiến bớt hung, dễ bắt hơn”, anh Djin nói nhỏ, như sợ phá vỡ sự tĩnh lặng của rừng. Nói rồi, anh bước nhanh, ánh mắt liên tục quét lên những tán cây phía trước. Với người chưa quen, tất cả chỉ là một màu xanh rối rắm. Nhưng với anh, mỗi cụm lá, mỗi cành cây đều có thể là tổ của kiến vàng.
Quần áo được mặc kín, từ tay đến cổ, thêm chiếc nón có tấm che mặt. Ảnh: Hiền Mai
Chúng tôi men theo một lối mòn nhỏ, băng qua những khoảnh rẫy xen rừng. Dưới chân, lớp lá khô kêu lạo xạo theo từng bước. Thỉnh thoảng, anh Djin dừng lại, ngước nhìn thật lâu rồi lại lắc đầu bước tiếp. “Chưa đúng dấu”, anh giải thích ngắn gọn.
Hành trang của chuyến đi gọn nhẹ đến mức tối giản: một chiếc gùi đeo sau lưng, bao tải, cây rựa và chiếc kéo nhỏ. Tất cả đều đã sờn cũ theo thời gian. Quần áo được mặc kín, từ tay đến cổ, thêm chiếc nón có tấm che mặt. Nhưng theo anh Djin, chừng đó vẫn chưa đủ. “Hành trang còn phải có thêm một thổ địa dẫn đường nhé!”, anh Djin cười.
Đi thêm một đoạn, anh bất chợt dừng lại dưới một tán cây mít. Lần này, anh không nói gì, chỉ đưa tay chỉ lên cao. Giữa những chùm lá xanh, một búi lá kết chặt hiện ra... tổ kiến vàng. Nếu không được chỉ, chúng tôi có lẽ đã đi qua mà không hề hay biết.
Không chần chừ, anh nhanh chóng mang bao tay, thoăn thoắt leo lên thân cây. Những động tác dứt khoát, gọn gàng như đã lặp lại hàng trăm lần. Chiếc kéo nhỏ trên tay cắt “ngọt” cành cây mang tổ kiến, rồi anh khéo léo đưa cả tổ vào bao tải, buộc chặt miệng. Tất cả diễn ra chỉ trong tích tắc.
Ở dưới, chúng tôi chỉ kịp nghe tiếng lá xào xạc, rồi thấy anh tụt xuống với nụ cười thoáng qua. “Được một tổ rồi”, anh hào hứng.
Giữa những chùm lá xanh, một búi lá kết chặt hiện ra tổ kiến vàng. Ảnh: Hiền Mai
Nhưng niềm vui ấy không kéo dài lâu. Rừng vẫn rộng, và kiến không phải lúc nào cũng “chịu lộ diện”. Có những đoạn đường, chúng tôi đi hàng chục phút mà không thêm một lần dừng lại. Nắng chiều dần gắt hơn, hơi nóng hắt lên từ mặt đất khiến lưng áo ướt đẫm mồ hôi.
Giữa những cánh rừng phía Tây tỉnh Gia Lai, nghề săn kiến vàng vẫn âm thầm tồn tại như một tập quán mưu sinh gắn với rừng của người Jrai. Mỗi người một cách đi rừng, một khung giờ khác nhau, nhưng đều chung một sự am hiểu và kiên nhẫn hiếm có.
Nếu anh Rơ Châm Djin chọn vào rừng khi nắng đã dịu để tránh đàn kiến hung dữ, thì anh Siu Siêm (thôn Ama Rin 2, xã Ia Pa) lại bắt đầu hành trình từ sáng sớm, khi rừng còn bảng lảng hơi sương. Đổi lại, anh phải chấp nhận những vết cắn rát buốt từ đàn kiến còn đang “đói”.
Anh Siu Siêm (thôn Ama Rin 2, xã Ia Pa) lại bắt đầu hành trình từ sáng sớm, khi rừng còn bảng lảng hơi sương. Ảnh: Hiền Mai
Khi phát hiện tổ, mọi thao tác phải diễn ra nhanh và chính xác. Nếu chậm, đàn kiến sẽ tỏa ra, bám đầy tay áo, vừa đau vừa khó kiểm soát. Ảnh: Hiền Mai
Dù chọn thời điểm nào, người săn kiến cũng phải đối mặt với những thử thách giống nhau. Những tổ kiến vàng thường nằm trên cao, kết từ lá non, ẩn mình giữa tán cây xanh rậm. Chỉ những ai quen rừng mới có thể nhận ra dấu hiệu rất nhỏ, một cụm lá khép lại bất thường hay những chuyển động li ti trên cành.
Khi phát hiện tổ, mọi thao tác phải diễn ra nhanh và chính xác. Nếu chậm, đàn kiến sẽ tỏa ra, bám đầy tay áo, vừa đau vừa khó kiểm soát.
Nhưng không phải lúc nào “lộc rừng” cũng dễ tìm. Có những buổi len lỏi hàng giờ giữa rừng, thành quả chỉ là vài tổ kiến nhỏ. Giữa cái nắng gắt mùa khô, mồ hôi ướt đẫm lưng áo, người săn kiến vẫn kiên nhẫn đi hết gốc cây này đến tán cây khác.
Với họ, săn kiến vàng không đơn thuần là kiếm thêm thức ăn trong những ngày nông nhàn. Đó còn là kinh nghiệm được tích lũy qua nhiều năm, là sự hiểu rừng đến từng thay đổi nhỏ nhất của cây lá, mùa vụ. Và trên hết, đó là một cách mưu sinh mà rừng vừa ban tặng, vừa thử thách.
Rời rừng trở về, những tổ kiến vàng còn vương mùi lá non nhanh chóng được người Jrai chế biến thành một thứ gia vị rất riêng mang tên "muối kiến vàng". Không cầu kỳ, không nhiều công đoạn, nhưng cách làm lại đòi hỏi sự tỉ mỉ để giữ trọn hương vị nguyên sơ của núi rừng.
Kiến được đãi sạch, loại bỏ lá khô, rồi đem phơi nhẹ qua nắng cho săn lại. Khi chảo rang bắt đầu nóng, từng mẻ kiến được đảo đều cùng muối hạt, ớt giã và đôi khi thêm chút sả băm. Mùi thơm dậy lên rất nhanh, một thứ hương khó gọi tên, vừa nồng, vừa chua thanh, thoảng chút béo ngậy. Người thích để nguyên con, giữ trọn vị giòn tan; người lại giã nhuyễn thành dạng bột mịn để dễ dùng.
Sau khi đưa về, kiến được đãi sạch, loại bỏ lá khô, rồi đem phơi nhẹ qua nắng cho săn lại. Ảnh: Hiền Mai
Trong bữa cơm của người Jrai, muối kiến vàng không phải món chính, nhưng lại là thứ “giữ chân” vị giác. Chỉ cần một chén nhỏ cũng đủ làm dậy lên hương vị của cả mâm cơm. Nó có thể ăn với cơm trắng, trộn gỏi, nhưng hợp nhất vẫn là khi chấm cùng bò một nắng hay cá suối nướng, những món ăn như mang cả nắng gió đại ngàn vào từng thớ thịt.
Ngồi bên hiên nhà, già làng Rơ Mah H’Blên (làng Ama Rin, xã Ia Pa) chậm rãi kể, mùa kiến đẹp nhất rơi vào khoảng tháng 3 đến tháng 4, khi rừng thay lá và kiến bắt đầu nhiều trứng. “Ngày trước, bà con bắt về chỉ để ăn trong nhà. Giờ khách dưới phố lên, ăn quen rồi tìm mua, nên người làng cũng mang ra chợ bán”, ông nói.
Muối kiến vàng là thứ “giữ chân” vị giác khi ai có cơ hội một lần nếm thử. Ảnh: Hiền Mai
Không dừng lại ở những phiên chợ quê, kiến vàng còn theo chân những người làm nghề chế biến đi xa hơn. Ở Krông Pa, chị Rơ Lan Nhiên nhiều năm nay đều đặn thu mua kiến từ các làng Jrai, rồi chế biến thành muối đóng hũ. Mỗi ngày, hàng chục ký muối được làm ra, theo những chuyến xe đi khắp nơi. “Khách thích vì đây là vị của rừng, không lẫn với gì khác. Làm sao giữ được cái vị ban đầu là khó nhất”, chị chia sẻ, tay vẫn thoăn thoắt đóng nắp từng hũ muối nhỏ.
Từ một sản vật hái lượm trong rừng, kiến vàng đang dần trở thành hàng hóa. Nhưng với người Jrai, giá trị lớn hơn nằm ở chỗ họ vẫn giữ được cách làm, cách ăn và cả ký ức về rừng. Bởi trong từng hạt muối ấy, không chỉ có vị chua cay, mà còn có cả hương của đại ngàn theo chân người phố.
Muối kiến vàng không chỉ là món ăn, mà còn là hương vị của núi rừng Tây Nguyên. Muối kiến vàng thường được đóng hũ nhỏ bán riêng với giá 40.000 đồng hoặc bán kèm với các loại đặc sản địa phương khác như bò một nắng, heo một nắng,...