Đóng

Thực thi EPR: Doanh nghiệp phải nộp phí xử lý bao bì trước 20/4

Theo quy định, doanh nghiệp phải kê khai EPR trước 1/4, đóng góp vào Quỹ Bảo vệ môi trường trước 20/4. Mức phí tính theo sản lượng, đặc tính bao bì thuốc bảo vệ thực vật.

Sáng 14/4, diễn ra Diễn đàn “Phổ biến quy định EPR đối với sản phẩm thuốc bảo vệ thực vật, phân bón và cơ chế hỗ trợ xử lý bao bì thuốc bảo vệ thực vật tại các địa phương”. Sự kiện do Báo Nông nghiệp và Môi trường phối hợp với Cục Môi trường, Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật, Sở Nông nghiệp và Môi trường Đắk Lắk tổ chức theo hình thức trực tiếp kết hợp trực tuyến.

Rõ trách nhiệm, minh bạch nguồn lực xử lý chất thải

Cơ chế EPR (Extended Producer Responsibility – trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất, nhập khẩu) là công cụ chính sách môi trường, theo đó doanh nghiệp phải chịu trách nhiệm trong toàn bộ vòng đời sản phẩm, kể cả giai đoạn sau tiêu dùng. Cơ chế này góp phần hiện thực hóa nguyên tắc “người gây ô nhiễm phải trả tiền”, đồng thời thúc đẩy mô hình kinh tế tuần hoàn.

Trong ba năm 2022-2024, cả nước đã thu gom gần 2.500 tấn bao gói thuốc bảo vệ thực vật sau sử dụng, nhưng vẫn còn hơn 550 tấn chưa được xử lý. Ảnh: NNVN

Tại Việt Nam, EPR đã được luật hóa trong Luật Bảo vệ môi trường năm 2020. Sau đó, Chính phủ ban hành Nghị định số 08/2022/NĐ-CP (sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 05/2025/NĐ-CP) nhằm hướng dẫn triển khai. Tuy nhiên, các quy định về quản lý, sử dụng nguồn kinh phí và cơ chế hỗ trợ vẫn chưa đầy đủ, gây khó khăn trong thực tiễn.

Ngày 1/4/2026, Chính phủ ban hành Nghị định 110/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ 25/5/2026 hoàn thiện khung pháp lý EPR. Nghị định đã cụ thể hóa trách nhiệm tái chế, xử lý chất thải của nhà sản xuất, nhập khẩu; đồng thời thiết lập rõ ràng cơ chế quản lý, phân bổ và sử dụng nguồn đóng góp tài chính.

Ông Nguyễn Thành Yên, Phó Trưởng phòng Chính sách - Pháp chế, Cục Môi trường (Bộ Nông nghiệp và Môi trường), đây là bước tiến quan trọng, giúp cơ chế EPR vận hành đồng bộ, minh bạch và khả thi hơn, bao quát toàn bộ chu trình từ huy động đến sử dụng nguồn lực. “Về chuyên môn, quy định quản lý chất thải cũng có nhiều thay đổi so với trước đây. Theo quy chuẩn mới, các cơ sở sản xuất, cung ứng phải thực hiện phân loại theo quy định cập nhật, dán nhãn xác nhận sản phẩm không vượt ngưỡng chất thải nguy hại”, ông Nguyễn Thành Yên nói.

Đối với lĩnh vực nông nghiệp, đặc biệt là bao bì thuốc bảo vệ thực vật, loại chất thải nguy hại, khó xử lý, Nghị định 110 tạo nền tảng xây dựng hệ thống thu gom, xử lý bền vững trên phạm vi cả nước. Cụ thể, Nghị định đã làm rõ cơ chế đóng góp và sử dụng quỹ hỗ trợ thu gom, xử lý chất thải; thiết lập nguyên tắc phân bổ kinh phí minh bạch, hiệu quả; tách riêng nguồn kinh phí cho bao bì thuốc bảo vệ thực vật; đơn giản hóa thủ tục tiếp cận nguồn hỗ trợ cho địa phương.

Bao bì thuốc bảo vệ thực vật là loại chất thải đặc thù, khó tái chế, thuộc diện phải tiêu hủy theo quy định. Do đó, các nhà sản xuất, nhập khẩu có trách nhiệm đóng góp tài chính vào Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam để phục vụ hoạt động thu gom, vận chuyển, xử lý.

Về trình tự thực hiện đóng góp tài chính vào Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam để hỗ trợ xử lý chất thải, ông Nguyễn Thành Yên cho hay, trước ngày 1/4 hàng năm, các tổ chức, cá nhân có trách nhiệm kê khai số tiền đóng góp tài chính hỗ trợ xử lý chất thải đối với các sản phẩm thuốc bảo vệ thực vật đã sản xuất hoặc nhập khẩu và đưa ra thị trường trong năm liền trước. Việc kê khai được thực hiện trên Hệ thống thông tin EPR quốc gia tại địa chỉ epr.mae.gov.vn. Trước ngày 20/4, các đơn vị phải nộp đầy đủ số tiền đã kê khai vào Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam theo quy định.

Còn hơn 550 tấn bao bì thuốc bảo vệ thực vật chưa được xử lý

Tại diễn đàn, ông Lương Ngọc Quang, Phó Trưởng phòng An toàn thực phẩm và Môi trường (Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật), cho biết bao bì trong sản xuất nông nghiệp hiện được chia thành hai nhóm: bao bì phân bón và bao bì thuốc bảo vệ thực vật.

Toàn cảnh diễn đàn. Ảnh: NNVN

Trong đó, bao bì phân bón chủ yếu được xử lý như chất thải rắn thông thường, có thể tái chế hoặc tái sử dụng. Ngược lại, bao bì thuốc bảo vệ thực vật thuộc nhóm chất thải nguy hại do chứa tồn dư hóa chất độc, đòi hỏi quy trình quản lý nghiêm ngặt từ thu gom đến xử lý.

Theo quy định hiện hành, bao bì sau sử dụng phải được thu gom vào bể chứa chuyên dụng, vận chuyển đến cơ sở xử lý trong vòng 12 tháng và chỉ các đơn vị có giấy phép mới được thực hiện xử lý. Nguyên tắc “người gây ô nhiễm phải trả tiền” đồng thời được áp dụng, hướng tới thúc đẩy kinh tế tuần hoàn.

Thực tế cho thấy nhiều chuyển biến tích cực. Trong 3 năm qua, hơn 11.700 lớp tập huấn đã được tổ chức với trên 600.000 lượt người tham gia; hơn 450.000 bể chứa được xây dựng trên cả nước. Giai đoạn 2022–2024, gần 2.500 tấn bao gói thuốc bảo vệ thực vật sau sử dụng đã được thu gom. Tuy nhiên, vẫn còn hơn 550 tấn (trên 20%) chưa được xử lý.

Theo ông Quang, nguyên nhân chủ yếu đến từ nhận thức và thói quen. Tình trạng vứt bỏ bao bì trên đồng ruộng, kênh mương vẫn phổ biến, tiềm ẩn nguy cơ ô nhiễm đất và nguồn nước. Bên cạnh đó, hạ tầng thu gom còn thiếu và chưa đồng bộ, nhiều bể chứa chưa đạt chuẩn.

Đáng chú ý, hạn chế về kinh phí là điểm nghẽn lớn nhất. Nhiều địa phương đã tổ chức thu gom nhưng thiếu nguồn lực để vận chuyển, xử lý theo quy định, trong khi cơ chế hỗ trợ chưa rõ ràng.

Trong bối cảnh đó, cơ chế EPR được kỳ vọng là giải pháp căn cơ. Đây là chính sách yêu cầu nhà sản xuất, nhập khẩu chịu trách nhiệm với sản phẩm trong toàn bộ vòng đời, bao gồm cả giai đoạn sau tiêu dùng.

Phát biểu khai mạc diễn đàn, ông Trần Văn Cao, Phó Tổng Biên tập Báo Nông nghiệp và Môi trường, nhấn mạnh EPR ngày càng giữ vai trò quan trọng trong nông nghiệp, góp phần giảm thiểu tác động môi trường từ hoạt động canh tác. “EPR không phải là một loại thuế mà là cơ chế trách nhiệm, trong đó nghĩa vụ đóng góp cần được thực hiện công bằng giữa các doanh nghiệp”, ông Trần Văn Cao nói.

Với đặc thù là loại chất thải khó thu gom, xử lý, bao bì thuốc bảo vệ thực vật cần một cơ chế tài chính và tổ chức đủ mạnh. Việc hoàn thiện EPR được kỳ vọng sẽ bổ sung nguồn lực cho địa phương, nâng cao hiệu quả quản lý chất thải nông nghiệp, giảm thiểu tác động tới môi trường và sức khỏe cộng đồng, hướng tới phát triển nông nghiệp bền vững.

Ra đời từ châu Âu những năm 1990 và sau đó được áp dụng rộng rãi tại các nước OECD, Nhật Bản, Hàn Quốc, EPR không chỉ giúp xử lý chất thải mà còn thúc đẩy doanh nghiệp thay đổi thiết kế sản phẩm theo hướng thân thiện môi trường, tăng khả năng tái chế, tái sử dụng.

Nguyễn Hạnh