Trong bối cảnh kinh tế toàn cầu biến động phức tạp và khó dự báo, xuất khẩu Việt Nam vẫn duy trì được đà tăng trưởng và xuất siêu tích cực, qua đó góp phần quan trọng vào ổn định kinh tế vĩ mô. Tuy nhiên, Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng đặt ra yêu cầu cao hơn, đó là chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng nâng cao năng suất, chất lượng, giá trị gia tăng và sức cạnh tranh, đồng thời tham gia sâu hơn vào mạng sản xuất và chuỗi giá trị toàn cầu.
Những định hướng này đặt ra yêu cầu mới đối với hoạt động xuất khẩu và cộng đồng doanh nghiệp trong nước. Trao đổi với phóng viên Báo Công Thương, TS. Lê Duy Bình - Chuyên gia kinh tế, Giám đốc Economica Việt Nam đã phân tích các nền tảng giúp xuất khẩu duy trì đà tăng trưởng thời gian qua, đồng thời đề xuất những trọng tâm chính sách cần ưu tiên nhằm củng cố nội lực và bảo đảm tăng trưởng bền vững trong giai đoạn mới.
TS. Lê Duy Bình - Chuyên gia kinh tế, Giám đốc Economica Việt Nam
Giữ đà tăng trưởng giữa bất định toàn cầu
- Trong bối cảnh kinh tế thế giới nhiều bất định, xuất nhập khẩu Việt Nam vẫn duy trì đà tăng trưởng và xuất siêu tích cực. Theo ông, đâu là những điểm sáng nổi bật nhất của hoạt động xuất khẩu thời gian qua và ý nghĩa của những kết quả này đối với ổn định kinh tế vĩ mô?
TS. Lê Duy Bình: Trong bối cảnh kinh tế toàn cầu còn nhiều bất định, việc Việt Nam vẫn duy trì tốc độ tăng trưởng xuất nhập khẩu tích cực với tổng kim ngạch khoảng 930 tỷ USD là kết quả rất đáng ghi nhận. Đây là nỗ lực lớn của toàn nền kinh tế, đặc biệt là cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam.
Điểm sáng nổi bật nhất là năng lực chống chịu của nền kinh tế đã được cải thiện rõ rệt. Doanh nghiệp Việt Nam cho thấy khả năng thích ứng tốt hơn trước các cú sốc bên ngoài, năng lực đáp ứng đơn hàng, duy trì sản xuất và linh hoạt điều chỉnh theo biến động thị trường đã được nâng lên.
Thứ hai, năng lực sản xuất, đặc biệt trong lĩnh vực chế biến, chế tạo, tiếp tục được củng cố. Nhiều nhóm hàng công nghiệp duy trì tốc độ xuất khẩu mạnh mẽ và phục hồi tích cực. Bên cạnh đó, các mặt hàng nông nghiệp cũng ghi nhận mức tăng trưởng ấn tượng, phản ánh năng lực cạnh tranh ngày càng rõ nét của nền kinh tế Việt Nam. Đây là những nền tảng quan trọng để duy trì đà tăng trưởng trong thời gian tới.
Kết quả này có sự đóng góp quan trọng của các cơ quan quản lý nhà nước. Những nỗ lực của Bộ Công Thương, Ngân hàng Nhà nước, Bộ Tài chính và các cơ quan liên quan trong việc giữ ổn định kinh tế vĩ mô, điều hành chính sách tiền tệ phù hợp, cải thiện thủ tục hải quan, tạo thuận lợi thương mại và đơn giản hóa thủ tục hành chính đã hỗ trợ thiết thực cho hoạt động xuất nhập khẩu. Môi trường kinh doanh ổn định và các hoạt động thuận lợi hóa thương mại đã góp phần củng cố niềm tin của doanh nghiệp.
Tuy nhiên, bên cạnh các điểm sáng vẫn còn những vấn đề cần lưu ý. Hiện khu vực FDI vẫn chiếm hơn 70% tổng kim ngạch xuất khẩu, trong khi doanh nghiệp trong nước chỉ chiếm gần 30%. Điều này cho thấy dư địa rất lớn để nâng cao vai trò của doanh nghiệp nội địa, bao gồm cả doanh nghiệp nhà nước và khu vực tư nhân.
Trong thời gian tới cần kỳ vọng hàng hóa được sản xuất nhiều hơn bởi doanh nghiệp trong nước, đồng thời phát triển mạnh công nghiệp hỗ trợ để nâng tỷ lệ nội địa hóa. Một điểm yếu cần cải thiện là giá trị gia tăng của hàng xuất khẩu Việt Nam còn khiêm tốn. Việc nâng cao hàm lượng công nghệ và phát triển các khâu có giá trị gia tăng cao trong chuỗi cung ứng sẽ là yêu cầu then chốt để nâng chất lượng tăng trưởng xuất khẩu trong giai đoạn mới.
Nâng tỷ lệ nội địa hóa
- Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng đặt ra yêu cầu xác lập mô hình tăng trưởng mới với mục tiêu nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, giá trị gia tăng và sức cạnh tranh của nền kinh tế. Theo ông, trọng tâm chính sách cần đặt vào những khâu nào để nâng tỷ lệ nội địa hóa, vai trò doanh nghiệp trong nước và vị thế của hàng hóa Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu?
TS. Lê Duy Bình: Tôi cho rằng, chúng ta cần có những chính sách đủ mạnh để hỗ trợ doanh nghiệp trong nước trở thành nhà cung ứng cho hoạt động xuất khẩu. Trọng tâm trước hết là phát triển công nghiệp hỗ trợ cho các ngành hàng xuất khẩu chủ lực như điện tử, ô tô, xe máy, chế biến thiết bị máy móc.
Hiện nay, nhu cầu về linh kiện, nguyên vật liệu và thiết bị đầu vào trong các ngành này là rất lớn. Nếu doanh nghiệp trong nước có thể sản xuất được các sản phẩm đầu vào và tham gia vào chuỗi cung ứng cho các doanh nghiệp đang xuất khẩu thì giá trị gia tăng sẽ được giữ lại nhiều hơn trong nền kinh tế.
Để làm được điều đó, doanh nghiệp nội địa cần được hỗ trợ nâng cao năng lực toàn diện như: năng lực công nghệ, hiểu biết thị trường, năng lực đổi mới sáng tạo, quản trị doanh nghiệp và tri thức chuyên môn. Khi tham gia chuỗi cung ứng, họ phải đáp ứng được các tiêu chuẩn kỹ thuật, bảo đảm chất lượng, tiến độ giao hàng, năng lực quản lý tài chính và văn hóa doanh nghiệp. Đây là những điều kiện bắt buộc nếu muốn trở thành nhà cung ứng cho các doanh nghiệp xuất khẩu hoặc các tập đoàn đa quốc gia.
Ưu tiên thứ hai là xây dựng một hệ sinh thái liên kết giữa doanh nghiệp, viện nghiên cứu và trường đại học. Doanh nghiệp cần được hỗ trợ tiếp cận thông tin thị trường, hiểu rõ yêu cầu kỹ thuật và tiêu chuẩn của bên mua. Khi có sự kết nối hiệu quả giữa nghiên cứu, đào tạo và sản xuất, doanh nghiệp trong nước sẽ nâng cao được trình độ công nghệ và năng lực tổ chức sản xuất.
Bên cạnh đó, môi trường kinh doanh giữ vai trò đặc biệt quan trọng. Các chính sách hỗ trợ về vốn, cải thiện thủ tục hành chính, tạo điều kiện tiếp cận tín dụng và khuyến khích đầu tư vào lĩnh vực công nghệ cao sẽ giúp doanh nghiệp mạnh dạn tham gia những lĩnh vực mới, kể cả những lĩnh vực đòi hỏi trình độ kỹ thuật cao mà trước đây họ chưa từng thực hiện.
Trọng tâm chính sách trong giai đoạn tới cần đặt vào việc phát triển năng lực nội địa của doanh nghiệp trong nước. Khi đủ năng lực, họ có thể trở thành mắt xích quan trọng trong chuỗi cung ứng toàn cầu, từ đó nâng tỷ lệ nội địa hóa, gia tăng giá trị trong nước và củng cố tính bền vững của nền kinh tế.
Tăng tỷ lệ nội địa hóa còn góp phần đưa thương hiệu Việt nâng cao uy tín quốc gia, tạo động lực phát triển bền vững cho nền kinh tế - Ảnh minh họa
Nâng hàm lượng tri thức
- Trong bối cảnh các tiêu chuẩn xanh, lao động và phát triển bền vững ngày càng khắt khe tại các thị trường lớn, ông đánh giá như thế nào về năng lực thích ứng của doanh nghiệp Việt Nam và về phía cơ quan quản lý cần làm gì để xuất khẩu tiếp tục là động lực tăng trưởng bền vững?
TS. Lê Duy Bình: Thời gian qua, doanh nghiệp Việt Nam đã thể hiện năng lực thích ứng rất linh hoạt và mạnh mẽ trước những biến động của thị trường quốc tế. Họ chủ động chuyển dịch theo tín hiệu thị trường, điều chỉnh cơ cấu sản phẩm và phương thức sản xuất để phù hợp với nhu cầu toàn cầu.
Hiện nay, hàng hóa Việt Nam đã có mặt tại hơn 200 thị trường trên thế giới, cung ứng khối lượng lớn sản phẩm cho nền kinh tế toàn cầu. Doanh nghiệp Việt Nam là nhân tố quan trọng góp phần khẳng định vị thế của Việt Nam trong thương mại quốc tế, đưa nước ta vào nhóm 20 nền kinh tế có kim ngạch xuất khẩu lớn nhất thế giới.
Điều đó cho thấy khả năng thích ứng của doanh nghiệp Việt Nam đã được nâng lên rõ rệt. Tuy nhiên, trong bối cảnh mới năng lực thích ứng này cần được chuyển hóa thành những bước đi cụ thể để đáp ứng các yêu cầu ngày càng cao của thị trường.
Các thị trường lớn như Hoa Kỳ, châu Âu, Nhật Bản đang đặt ra tiêu chuẩn ngày càng khắt khe hơn về chất lượng, kỹ thuật, môi trường và trách nhiệm xã hội. Doanh nghiệp không chỉ đáp ứng yêu cầu về số lượng mà còn phải tập trung vào chất lượng sản phẩm và tuân thủ đầy đủ các quy định pháp luật.
Những yêu cầu mới bao gồm tiêu chí về phát thải carbon trên một đơn vị sản phẩm, mức tiêu thụ năng lượng, tiêu chuẩn xanh, an toàn thực phẩm và các quy định liên quan đến môi trường và xã hội. Các chuẩn mực này ngày càng phức tạp và tinh vi, buộc doanh nghiệp phải nâng cấp năng lực toàn diện.
Vì vậy, ngoài việc duy trì sản xuất, doanh nghiệp cần chủ động nắm bắt yêu cầu thị trường, tăng cường đầu tư vào khoa học công nghệ, đổi mới quy trình sản xuất, cải tiến sản phẩm và dịch vụ. Quá trình đổi mới phải diễn ra liên tục, nâng cao hàm lượng tri thức trong sản phẩm, cải thiện chất lượng và tối ưu chi phí. Chỉ khi chuyển từ cạnh tranh về quy mô sang cạnh tranh về chất lượng và giá trị gia tăng, doanh nghiệp Việt Nam mới có thể duy trì và nâng cao vị thế của hàng hóa Việt Nam trên thị trường quốc tế, cả về kim ngạch lẫn chất lượng và giá trị.
Đại hội XIV đã xác lập tầm nhìn, nhấn mạnh yêu cầu hành động mạnh mẽ, triển khai quyết liệt và đo đếm bằng kết quả cụ thể. Chính sách phải được cụ thể hóa đến từng cấp thực thi, tạo ra chuyển biến thực chất trong từng lĩnh vực. Xuất nhập khẩu cũng cần chuyển mình theo tinh thần ấy, không dừng ở quy mô mà phải gia tăng giá trị và hiệu quả. Sự cộng hưởng giữa quyết tâm chính trị và nội lực kinh tế sẽ mở ra cơ hội chạm tới cột mốc 1.000 tỷ USD trong tương lai gần.
Xin cảm ơn ông!
Năm 2026 là năm đầu tiên thực hiện Nghị quyết Đại hội lần thứ XIV của Đảng, năm đầu tiên triển khai Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2026 - 2030. Theo Nghị quyết số 01/NQ-CP, Chính phủ yêu cầu tổng kim ngạch xuất khẩu tăng khoảng 15 - 16% so với năm 2025, tương ứng quy mô 546 - 550 tỷ USD.