Đóng

TS. Phan Hữu Thắng: Khu công nghiệp cần hướng tới mô hình sinh thái

Dòng vốn FDI thế hệ mới cùng yêu cầu xanh hóa sản xuất đang thúc đẩy các khu công nghiệp Việt Nam chuyển từ mô hình khai thác đất, hạ tầng đơn thuần sang mô hình khu công nghiệp sinh thái.

Không thể tiếp tục phát triển khu công nghiệp chủ yếu dựa vào đất

Theo Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ Tài chính), hiện Việt Nam có 478 khu công nghiệp (KCN) đã được thành lập, với tổng diện tích đất tự nhiên theo quy hoạch khoảng 146.000 ha, tạo ra khoảng 101.600 ha đất công nghiệp. Các KCN đang tạo việc làm trực tiếp cho khoảng 4,15 triệu lao động.

TS. Phan Hữu Thắng - Chủ tịch Liên chi hội Tài chính Khu công nghiệp Việt Nam, nguyên Cục trưởng Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ Kế hoạch và Đầu tư, nay là Bộ Tài chính).

Trong tổng số 478 KCN đã được thành lập có 324 KCN đã đi vào hoạt động, tỷ lệ lấp đầy bình quân toàn hệ thống đạt 53,2%, tương ứng khoảng 47.500 ha đất công nghiệp vẫn còn dư địa.

Trong kho đó, theo báo cáo của Viện Chiến lược và Chính sách kinh tế - tài chính (Bộ Tài chính), tỷ lệ lấp đầy tại các KCN đang hoạt động đạt khoảng 75%. Tại các tỉnh, thành phố trọng điểm phía Bắc, tỷ lệ này khoảng 83%, trong khi tại các địa phương trọng điểm phía Nam lên tới 92%. Đối với phân khúc nhà xưởng xây sẵn, tỷ lệ lấp đầy đạt 88% ở phía Bắc và 89% ở phía Nam.

Những con số trên cho thấy Việt Nam chưa thiếu đất công nghiệp về tổng thể, nhưng quỹ đất có vị trí thuận lợi, hạ tầng tốt, kết nối logistics hoàn chỉnh tại các trung tâm sản xuất lớn ngày càng thu hẹp. Trong khi đó, một phần diện tích còn trống lại nằm tại những địa phương có khả năng kết nối hạn chế hơn. Điều này khiến lợi thế cạnh tranh của KCN trong giai đoạn mới không thể tiếp tục chỉ dựa vào giá thuê đất, chi phí lao động hay diện tích có thể cung cấp cho nhà đầu tư.

Theo TS. Phan Hữu Thắng - Chủ tịch Liên chi hội Tài chính Khu công nghiệp Việt Nam, nguyên Cục trưởng Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ Kế hoạch và Đầu tư, nay là Bộ Tài chính), yêu cầu lớn hơn trong giai đoạn hiện nay là chuyển từ tư duy một nền kinh tế chủ yếu thu hút đầu tư vào Việt Nam sang một nền kinh tế có khả năng tổ chức, kết nối và lan tỏa các nguồn lực trong một hệ sinh thái công nghiệp có sức cạnh tranh quốc tế.

Cách tiếp cận này đặt KCN vào một vị trí hoàn toàn khác. KCN không còn chỉ là nơi cung cấp mặt bằng và hạ tầng sản xuất, mà phải trở thành một mắt xích trong hệ sinh thái gồm FDI, doanh nghiệp trong nước, tài chính, logistics, công nghệ, nhân lực, nghiên cứu - phát triển và chuỗi cung ứng. Đây cũng là nền tảng để thúc đẩy quá trình chuyển từ mô hình KCN truyền thống sang KCN sinh thái.

Trong tổng số 478 KCN đã được thành lập có 324 KCN đã đi vào hoạt động.

FDI thế hệ mới đòi hỏi một hệ sinh thái mới

Cũng theo TS. Phan Hữu Thắng, sự thay đổi của mô hình KCN diễn ra đồng thời với sự dịch chuyển trong dòng vốn FDI. Năm 2025, tổng vốn FDI đăng ký vào Việt Nam đạt 38,42 tỷ USD, tăng 0,5% so với năm trước; vốn thực hiện đạt 27,62 tỷ USD, tăng 9%. Trong đó, công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục giữ vai trò chủ đạo với 22,88 tỷ USD, chiếm 82,8% tổng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện.

8 tháng năm 2026, theo số liệu từ Cục Đầu tư nước ngoài, tổng vốn đầu tư nước ngoài đăng ký mới, điều chỉnh và góp vốn, mua cổ phần đạt trên 40,6 tỷ USD, tăng 55,4% so với cùng kỳ. Công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục dẫn đầu với trên 21 tỷ USD, chiếm 51,8% tổng vốn đăng ký; sản xuất, phân phối điện, khí, nước, điều hòa đạt trên 3,29 tỷ USD, chiếm 8,1%. Nhu cầu của nhà đầu tư nước ngoài đối với hạ tầng KCN vì vậy vẫn rất lớn.

Đặc biệt, nếu như trước đây, một KCN có thể tạo lợi thế chủ yếu nhờ đất sạch, hạ tầng cơ bản, giá thuê cạnh tranh và lực lượng lao động dồi dào. Nhưng trong giai đoạn hiện nay, với các dự án công nghệ cao và chuỗi cung ứng thế hệ mới, nhà đầu tư ngày càng quan tâm nhiều hơn đến năng lượng xanh, khả năng giảm phát thải, hạ tầng số, logistics thông minh, nguồn nhân lực có kỹ năng và mạng lưới nhà cung cấp trong nước.

TS. Phan Hữu Thắng từng chỉ ra một trong những điểm yếu cấu trúc của khu vực FDI là sự thiếu liên kết thực chất giữa doanh nghiệp FDI với doanh nghiệp trong nước. Nhiều doanh nghiệp Việt Nam vẫn chủ yếu tham gia ở những công đoạn có giá trị gia tăng thấp, khả năng tiếp cận công nghệ lõi, thiết kế và hoạt động R&D (nghiên cứu và phát triển) còn hạn chế.

Do đó, thu hút FDI trong giai đoạn mới cần chuyển từ tư duy “thu hút vốn đầu tư” sang “kiến tạo giá trị phát triển”. FDI không chỉ cần đem lại vốn và năng lực sản xuất, mà phải được kết nối với doanh nghiệp Việt Nam, chuyển giao công nghệ, đổi mới sáng tạo và sự phát triển của hệ sinh thái công nghiệp trong nước. Quan điểm này đặc biệt phù hợp với quá trình chuyển đổi khu công nghiệp hiện nay.

Bởi nếu KCN chỉ là nơi tập trung nhiều nhà máy nhưng các doanh nghiệp gần như không có quan hệ với nhau, không chia sẻ hạ tầng, không hình thành mạng lưới cung ứng và không tạo ra sự lan tỏa công nghệ, thì giá trị mà KCN mang lại cho nền kinh tế sẽ bị giới hạn. Ngược lại, một KCN sinh thái có khả năng kết nối các doanh nghiệp theo chuỗi, chia sẻ tài nguyên, sử dụng chung hạ tầng, tiết kiệm năng lượng và giảm phát thải sẽ tạo thêm giá trị ngay trên diện tích đất công nghiệp hiện hữu.

Đây chính là bước chuyển từ KCN 1.0 - chủ yếu cung cấp đất và hạ tầng - sang KCN 2.0, trong đó hiệu quả được đo nhiều hơn bằng giá trị tạo ra trên một đơn vị diện tích, trình độ công nghệ và mức độ liên kết của hệ sinh thái sản xuất.

KCN sinh thái sẽ không chỉ là một mô hình bảo vệ môi trường mà còn trở thành công cụ để nâng chất lượng dòng vốn đầu tư vào Việt Nam.

Hành lang chính sách thúc đẩy khu công nghiệp sinh thái

Trên thực tế, định hướng chuyển đổi từ khu công nghiệp truyền thống sang KCN sinh thái đã được đưa ra tại nhiều văn bản. Cụ thể, Nghị định số 35/2022/NĐ-CP quy định về quản lý KCN và khu kinh tế đã đưa ra định hướng về KCN sinh thái. Trong đó, các doanh nghiệp trong KCN tham gia vào hoạt động sản xuất sạch hơn và sử dụng hiệu quả tài nguyên thiên nhiên, có sự liên kết, hợp tác trong sản xuất để thực hiện cộng sinh công nghiệp…

Nghị định cũng nêu rõ, nhà nước khuyến khích và có biện pháp hỗ trợ các tổ chức, cá nhân đầu tư mới hoặc chuyển đổi toàn bộ hoặc một phần KCN đã được thành lập sang hoạt động theo loại hình KCN hỗ trợ, KCN chuyên ngành, KCN sinh thái và KCN công nghệ cao.

Các dự án đầu tư xây dựng, kinh doanh kết cấu hạ tầng và các dự án đầu tư trong những loại hình KCN này được hưởng ưu đãi theo địa bàn, ngành nghề và các quy định pháp luật có liên quan; đồng thời được hỗ trợ về thủ tục hành chính, tư vấn kỹ thuật, xúc tiến đầu tư và cung cấp thông tin hợp tác đầu tư.

Tiếp đó, Thông tư số 05/2025/TT-BKHĐT của Bộ Kế hoạch và Đầu tư trước đây (nay thuộc lĩnh vực quản lý của Bộ Tài chính) về hướng dẫn xây dựng KCN sinh thái tiếp tục cụ thể hóa các yêu cầu liên quan đến quy hoạch, hạ tầng dùng chung, quản lý KCN, hiệu quả sử dụng tài nguyên và chứng nhận KCN sinh thái.

Cùng với đó, Quy hoạch tổng thể quốc gia thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 xác định định hướng phát triển hệ thống KCN theo hướng hiện đại, sinh thái, thông minh và giảm dần các cơ sở có nguy cơ gây ô nhiễm cao.

Như vậy, cơ sở chính sách để thúc đẩy KCN sinh thái đã từng bước được hình thành. Tuy nhiên theo các chuyên gia, quá trình chuyển đổi cần tiếp tục được hỗ trợ bằng các hướng dẫn kỹ thuật chi tiết hơn, nhất là việc làm rõ ranh giới giữa “chất thải” và “tài nguyên tái chế”, qua đó tạo điều kiện cho doanh nghiệp thực hiện cộng sinh công nghiệp.

Bên cạnh đó, cần tổng kết và nhân rộng những mô hình KCN sinh thái đã triển khai hiệu quả, đồng thời tăng khả năng kết nối giữa các khung tiêu chuẩn quốc tế như UNIDO (Tổ chức Phát triển công nghiệp Liên hợp quốc), Ngân hàng Thế giới, GIZ (Tổ chức Hợp tác quốc tế Đức) với tiêu chuẩn trong nước.

Khu công nghiệp sinh thái sẽ không chỉ là một mô hình bảo vệ môi trường mà còn trở thành công cụ để nâng chất lượng FDI, gia tăng năng lực nội tại và cải thiện sức cạnh tranh của nền công nghiệp Việt Nam.

Nguyễn Hoà