Đóng

Tự chủ chiến lược vì một Việt Nam tự lực, tự cường và tự tin - Kỳ 2: Quy mô GDP đã lớn, nỗi lo vẫn không nhỏ

Để tăng trưởng hai con số, giá trị tạo ra trên đất Việt ở lại với người Việt nhiều hơn trong giai đoạn tới, nền kinh tế cần một bước chuyển thực chất.

Kỳ 2: Quy mô GDP đã lớn, nỗi lo vẫn không nhỏ

Trong vòng 5 năm qua, quy mô nền kinh tế Việt Nam tăng gần 1,5 lần, vươn lên nhóm nước có thu nhập trung bình cao. Đó là thành tựu rất đỗi tự hào của mỗi người dân Việt Nam. Nhưng để tăng trưởng hai con số, giá trị tạo ra trên đất Việt ở lại với người Việt nhiều hơn trong giai đoạn tới, nền kinh tế cần một bước chuyển thực chất: từ chiều rộng sang chiều sâu, từ tham gia vào làm chủ mạnh mẽ hơn nữa.

Kinh tế tư nhân đóng góp khoảng 51% GDP, trên 30% ngân sách, sử dụng 82% lao động. Ảnh: Công nhân kiểm tra thành phẩm thép tại Tập đoàn Hòa Phát. Ảnh: HPG.

Nền kinh tế vươn mình

PGS.TS Nguyễn Bá Minh, Giảng viên cao cấp, nguyên Viện trưởng Viện Kinh tế - Tài chính thuộc Học viện Tài chính, đặt hai con số cạnh nhau: năm 2020, GDP Việt Nam là 346,6 tỷ USD, xếp thứ 37 thế giới. Năm 2025 đã vượt 514 tỷ USD, xếp thứ 32 thế giới và thứ 4 ASEAN. "Chỉ trong 5 năm, chúng ta vươn lên 5 bậc trên bảng xếp hạng kinh tế toàn cầu. Không phải quốc gia nào cũng làm được điều đó trong bối cảnh thế giới có quá nhiều biến động như vừa qua" - PGS.TS Nguyễn Bá Minh nói với phóng viên Báo Công Thương.

Nếu lấy mốc năm 2020 và 2025 để so sánh về tốc độ phát triển cũng như quy mô nền kinh tế và hàng loạt chỉ tiêu khác, không khó để nhận thấy sự phát triển vượt bậc này.

Trong 5 năm qua, GDP bình quân đầu người tăng từ 3.552 USD lên khoảng 5.026 USD (gấp 1,4 lần). Thu nhập quốc dân bình quân đầu người tăng từ 3.400 USD lên 4.750 USD, bước vào nhóm các nước có thu nhập trung bình cao. Phía sau những con số tăng trưởng đó là hàng loạt thành tựu cụ thể trên nhiều lĩnh vực.

Theo PGS.TS Nguyễn Bá Minh, nguyên Viện trưởng Viện Kinh tế - Tài chính (Học viện Tài chính), có rất nhiều điểm tựa quan trọng để tự tin rằng, Việt Nam hoàn toàn có thể xây dựng được nền kinh tế tự chủ, thực chất.

Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân giai đoạn 2021 - 2025 đạt 6,2%/năm, trong đó năm 2025 tăng 8,02%. Lạm phát được kiểm soát tốt, CPI năm 2025 ở mức 3,31%. Nợ công đến cuối năm 2025 khoảng 34,4% GDP, thấp hơn nhiều so với mức trần đặt ra.

Chất lượng tăng trưởng có chuyển biến tích cực: năng suất lao động tăng bình quân 5,2%/năm; đóng góp của các nhân tố tổng hợp (TFP) vào tăng trưởng kinh tế đạt khoảng 47%.

Kinh tế tư nhân đóng góp khoảng 51% GDP, trên 30% ngân sách, sử dụng 82% lao động. Nền kinh tế Việt Nam bước đầu đã xuất hiện một số tập đoàn kinh tế tư nhân có quy mô lớn, hoạt động đa ngành.

Trong 5 năm qua, thu nhập quốc dân bình quân đầu người của Việt Nam tăng từ 3.400 USD lên 4.750 USD, bước vào nhóm các nước có thu nhập trung bình cao. Ảnh: Thừa Ngọc.

Về cơ cấu kinh tế, tỷ trọng khu vực công nghiệp và dịch vụ trong GDP tăng từ 78,6% năm 2020 lên 80,4% năm 2025. Tỷ trọng công nghiệp chế biến, chế tạo trong GDP tăng từ 23,9% lên khoảng 24,5%. Kinh tế số tăng trưởng bình quân 9,8%/năm, chiếm trên 14% GDP năm 2025.

Về nông nghiệp, xuất khẩu nông sản Việt Nam đứng thứ 15 thế giới, thứ 2 Đông Nam Á, có mặt ở trên 200 quốc gia và vùng lãnh thổ. Năng suất lao động nông nghiệp tăng từ 71,9 triệu đồng/lao động năm 2020 lên trên 111 triệu đồng/lao động năm 2025.

Về năng lượng tái tạo, tỷ trọng điện gió, điện mặt trời, điện sinh khối trong tổng sản lượng điện của hệ thống tăng từ 4,9% năm 2020 lên 15% vào năm 2025.

Nguồn: Báo cáo Đánh giá 5 năm thực hiện chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm 2021- 2030.

Còn đó những rào cản

Cần khẳng định nền kinh tế Việt Nam đã phát triển mạnh mẽ trong 5 năm qua, trở thành trụ cột nâng cao vị thế đất nước trên trường quốc tế. Tuy nhiên, một nền kinh tế muốn tiến vào giai đoạn tăng trưởng hai con số một cách bền vững, thực chất hơn, cần nhìn thẳng vào những tồn tại.

Văn kiện Đại hội lần thứ XIV của Đảng (Phụ lục số 04 Đánh giá 5 năm thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm 2021 - 2030) đã thẳng thắn nêu rõ: Ổn định kinh tế vĩ mô chưa thật vững chắc, chất lượng tăng trưởng cải thiện còn chậm, cơ cấu kinh tế và mô hình tăng trưởng từ chiều rộng sang chiều sâu chưa có nhiều thay đổi đáng kể. Chất lượng, hiệu quả, năng lực tự chủ và sức cạnh tranh của nền kinh tế chưa cao. Tăng trưởng kinh tế mới đạt xấp xỉ mục tiêu đề ra. Chuyển đổi xanh, kinh tế tuần hoàn, chip bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, năng lượng mới, vật liệu mới... chưa thực sự trở thành động lực tăng trưởng mới.

Chuyển đổi xanh, kinh tế tuần hoàn, chip bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, năng lượng mới, vật liệu mới... chưa thực sự trở thành động lực tăng trưởng mới.

Năng suất lao động và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp còn thấp, nhất là doanh nghiệp tư nhân trong nước. Doanh nghiệp trong nước quy mô vẫn còn nhỏ, ít doanh nghiệp có thương hiệu quốc tế, chủ yếu tham gia ở các khâu có giá trị gia tăng thấp trong chuỗi giá trị toàn cầu.

Bên cạnh đó, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo chưa thực sự trở thành động lực tăng trưởng. Chi đầu tư cho khoa học, công nghệ còn thấp. Tỷ lệ giá trị sản phẩm công nghệ cao và ứng dụng công nghệ cao trong công nghiệp chế biến, chế tạo chưa cao. Ngành công nghiệp phụ trợ phát triển còn chậm, tỉ lệ nội địa hóa thấp. Liên kết giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp trong nước còn yếu, chưa tạo ra hiệu ứng lan tỏa rộng về công nghệ và quản trị.

Hạ tầng dữ liệu chưa đáp ứng yêu cầu phát triển; thiếu nhân lực chất lượng cao về công nghệ thông tin, trí tuệ nhân tạo.

Những nút thắt nằm sâu trong cấu trúc tăng trưởng

Thể chế kinh tế thị trường còn những bất cập; môi trường đầu tư, kinh doanh còn nhiều rào cản; thủ tục hành chính nhiều lĩnh vực còn rườm rà, phức tạp; chi phí tuân thủ còn cao.

PGS.TS Đinh Trọng Thịnh trao đổi với phóng viên Báo Công Thương.

Các chuyên gia kinh tế nhìn nhận thực trạng này với sự thẳng thắn cần thiết.

PGS.TS Đinh Trọng Thịnh, chuyên gia kinh tế - tài chính phân tích với phóng viên Báo Công Thương: "Muốn tăng trưởng bền vững thì phải phát triển được nền tảng sản xuất của nền kinh tế theo hướng đồng bộ, chứ không thể chỉ trông chờ vào mở rộng đầu tư theo chiều rộng. Trong đó, một trọng tâm rất quan trọng là phát triển công nghiệp, đặc biệt là những ngành sản xuất quy mô lớn, có hàm lượng công nghệ, giá trị gia tăng và sức lan tỏa cao".

TS. Lê Đăng Doanh, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương, chỉ ra một thực tế đáng suy ngẫm: "Ngay cả nhiều mặt hàng tiêu dùng thông thường cũng đang phải nhập khẩu từ Hàn Quốc, Trung Quốc và nhiều thị trường khác. Điều đó cho thấy năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp nội địa trong nhiều lĩnh vực vẫn còn hạn chế". Theo ông, ngay cả khu vực FDI đang xuất khẩu rất nhiều, nhưng "phần lớn giá trị cấu thành trong các sản phẩm đó lại được tạo ra từ bên ngoài Việt Nam".

Điểm tựa để tự chủ chiến lược

Thẳng thắn nhìn nhận những tồn tại không phải để bi quan mà nhằm xác định đúng việc cần làm.

Có rất nhiều điểm tựa quan trọng để tự tin rằng, Việt Nam hoàn toàn có thể xây dựng được nền kinh tế tự chủ, thực chất. PGS.TS Nguyễn Bá Minh phân tích.

Thứ nhất, nền tảng vĩ mô đã đủ vững. Nợ công ở mức 34,4% GDP, lạm phát được kiểm soát tốt, dự trữ ngoại hối ở mức ổn định, đây là "bộ giảm xóc" quan trọng để nền kinh tế có thể mạnh dạn đầu tư dài hạn vào công nghệ và hạ tầng mà không lo bất ổn tài chính.

Thứ hai, quy mô và vị thế đã đủ để đàm phán bình đẳng hơn. Một nền kinh tế đứng thứ 32 thế giới, có 17 Hiệp định thương mại tự do (FTA) còn hiệu lực, là đối tác thương mại quan trọng của Mỹ, Trung Quốc, EU, Nhật, Hàn Quốc. Đó là vị thế đủ lớn để đặt ra những yêu cầu cao hơn với đối tác đầu tư: yêu cầu chuyển giao công nghệ, liên kết với doanh nghiệp trong nước, đào tạo nhân lực chất lượng cao.

Nền kinh tế Việt Nam đứng thứ 32 thế giới, có 17 FTA còn hiệu lực, là đối tác thương mại quan trọng của Mỹ, Trung Quốc, EU, Nhật, Hàn Quốc. Đó là vị thế đủ lớn để đặt ra những yêu cầu cao hơn với các đối tác đầu tư. Ảnh: GMD.

Thứ ba, khu vực kinh tế tư nhân đang thực sự trưởng thành. Khu vực kinh tế tư nhân đóng góp khoảng 51% GDP, sử dụng 82% lao động và bước đầu đã hình thành một số tập đoàn kinh tế tư nhân có quy mô lớn, hoạt động đa ngành. Đây không phải nền kinh tế thiếu doanh nghiệp mà là nền kinh tế đang có những doanh nghiệp đủ lớn để phát triển lên tầng cao hơn, nếu được hỗ trợ đúng cách.

Thứ tư, một loạt chính sách về phát triển kinh tế nhà nước, kinh tế tư nhân, khoa học, công nghệ, an ninh năng lượng… đã được ban hành đồng bộ với nhiều nội dung mới. Điều còn lại là thực thi.

PGS.TS Đinh Trọng Thịnh khẳng định: "Giữa mục tiêu tăng trưởng cao và yêu cầu tự chủ kinh tế không có mâu thuẫn. Ngược lại, nếu được tổ chức đúng cách, đây là hai mục tiêu có thể hỗ trợ cho nhau. Tự chủ kinh tế không có nghĩa là đóng cửa hay tách rời khỏi thế giới, mà là xây dựng được một nền tảng đủ vững để nền kinh tế có thể vận hành ổn định và chủ động hơn trong quá trình phát triển".

Nhìn lại những lĩnh vực phát triển mạnh trong thời gian vừa qua có thể thấy, Việt Nam hoàn toàn có thể tự chủ trên nhiều phương diện. Từ hạt lúa nuôi cả trăm triệu dân và vươn lên trở thành cường quốc xuất khẩu gạo, đến tần số 5G "Make in Vietnam", phần mềm Việt chạy trong hệ thống của những tập đoàn quốc tế hàng đầu..., nhiều doanh nghiệp Việt Nam đã đứng vững tại thị trường trong nước, vươn ra thế giới.

Củng cố năng lực sản xuất trong nước, chọn lọc nguồn lực bên ngoài

"Trong điều kiện hiện nay, nếu Việt Nam không tiếp tục thu hút vốn đầu tư nước ngoài, nhất là dòng vốn gắn với công nghệ hiện đại, việc tạo ra bứt phá tăng trưởng sẽ rất khó khăn. Nội lực là yếu tố quyết định, nhưng ngoại lực vẫn là nguồn bổ trợ rất quan trọng. Tăng trưởng bền vững phải là sự kết hợp hài hòa giữa việc củng cố năng lực sản xuất trong nước với việc thu hút, chọn lọc và sử dụng hiệu quả các nguồn lực từ bên ngoài", PGS.TS Đinh Trọng Thịnh nhấn mạnh.

Mời độc giả đón đọc Kỳ 3: "Mười nghị quyết và một khát vọng"

Nguyên Thành - Hồng Quang - Việt Anh - Tiến Phòng - Thừa Ngọc