Nông dân làm nên kỳ tích xuất khẩu hơn 70 tỷ USD
Trong khuôn khổ họp báo Đại hội đại biểu toàn quốc Hội Nông dân Việt Nam lần thứ IX, nhiệm kỳ 2026 - 2031, tọa đàm “Giai cấp nông dân Việt Nam – 40 năm đổi mới: Từ khát vọng trên đồng ruộng tới kỷ nguyên vươn mình” đã thu hút nhiều ý kiến trao đổi về vai trò của nông dân trong quá trình phát triển đất nước.
Các đại biểu dự Toạ đàm. Ảnh: Phạm Hưng
TS. Phùng Đức Tiến, nguyên Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Đại biểu Quốc hội khóa XVI cho rằng, sau Đại hội VI của Đảng năm 1986, nông nghiệp, nông dân và nông thôn thực sự bước sang một giai đoạn phát triển mới. Chính quá trình đổi mới và tái cơ cấu nông nghiệp trong suốt 40 năm qua đã tạo nên những bước tiến lớn cho ngành nông nghiệp Việt Nam.
Theo ông Tiến, năm 2025 dù chịu tác động của thiên tai, biến đổi khí hậu và bão lũ, ngành nông nghiệp vẫn tăng trưởng 3,78%; tổng kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản vượt 70 tỷ USD, xuất siêu khoảng 21,4 tỷ USD.
Nhiều mặt hàng chủ lực như thủy sản, gạo, cà phê đã có mặt tại hơn 200 quốc gia và vùng lãnh thổ. Sản lượng lương thực duy trì trên 45 triệu tấn mỗi năm, vừa bảo đảm an ninh lương thực trong nước vừa đóng góp cho thị trường toàn cầu. Riêng năm 2025, Việt Nam xuất khẩu khoảng 7,9 triệu tấn gạo.
Trong lĩnh vực chăn nuôi, sản lượng thịt đạt khoảng 8,8 triệu tấn, trứng đạt 21,4 tỷ quả, thức ăn chăn nuôi hơn 22 triệu tấn và sữa đạt 1,3 triệu tấn. Thủy sản dù thiệt hại do thiên tai vẫn đạt gần 10 triệu tấn, mức cao nhất từ trước tới nay. “Với sự dẻo dai, thông minh và sáng tạo, người nông dân Việt Nam đã góp phần làm nên kỳ tích của ngành nông nghiệp hôm nay”, ông Tiến nói.
Theo ông, nông dân hiện nay không chỉ là lực lượng sản xuất mà còn từng bước tham gia chuyển đổi số, truy xuất nguồn gốc, kinh tế tuần hoàn và kinh tế xanh. Tuy nhiên, quá trình này mới ở giai đoạn đầu và cần những bước đi quyết liệt hơn.
Ông cũng đánh giá Hội Nông dân Việt Nam đang đóng vai trò cầu nối giữa Đảng, Nhà nước với người nông dân thông qua hỗ trợ vốn, chuyển giao khoa học công nghệ, đào tạo kỹ năng và phổ biến chính sách.
Làm sao để nông dân sống được bằng ruộng đất?
Ở góc nhìn khác, GS.TS Phạm Hồng Tung, Đại học Quốc gia Hà Nội cho rằng, nông nghiệp, nông dân, nông thôn đang đối mặt với bài toán khó hơn cả thời kỳ trước Khoán 10, đó là câu chuyện sinh kế của người nông dân.
Theo ông, tình trạng ruộng đất bỏ hoang đang xuất hiện ngày càng nhiều tại một số địa phương phía Bắc. Nhiều người không còn mặn mà với đồng ruộng vì làm nông nghiệp thu nhập thấp, thiếu ổn định, trong khi đi làm công ty có mức tích lũy tốt hơn. “Người nông dân không ly hương nhưng đã bắt đầu ly nông”, ông Tung nói.
Ông cho rằng bài toán hiện nay không chỉ dừng ở việc “trồng cây gì, nuôi con gì”, mà là làm thế nào để nông dân trở thành chủ thể của sinh kế nông thôn trong tư duy toàn cầu; sản xuất được hàng hóa đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế, truy xuất được nguồn gốc và tham gia sâu vào chuỗi cung ứng toàn cầu.
Theo GS.TS Phạm Hồng Tung, để giải quyết bài toán “tam nông” trong giai đoạn mới cần tập trung vào bốn vấn đề lớn: Đẩy mạnh chuyển đổi số và ứng dụng khoa học công nghệ; bảo vệ môi trường và thích ứng biến đổi khí hậu; xây dựng mô hình liên kết sản xuất quy mô lớn; đồng thời củng cố các kết nối kinh tế, xã hội và văn hóa ở nông thôn sau sáp nhập đơn vị hành chính.
Trong khi đó, TS. Lê Doãn Hợp, nguyên Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông (nay là Bộ Khoa học và Công nghệ), cho rằng thành công lớn nhất của 40 năm Đổi mới là giải phóng được sức sản xuất của nông dân. Ông nhắc lại thời điểm trước Đại hội VI của Đảng, đất nước đối mặt với nhiều khó khăn về kinh tế, đối ngoại và lạm phát, nhưng chính quyết sách đổi mới đã mở đường cho nông nghiệp phát triển mạnh mẽ.
Chỉ sau hơn một năm thực hiện đổi mới trong nông nghiệp, Việt Nam đã từ thiếu lương thực trở thành quốc gia xuất khẩu gạo hàng đầu thế giới, cho thấy tiềm năng rất lớn của người nông dân. Tuy nhiên, ông Lê Doãn Hợp cho rằng nông dân hiện nay vẫn thiếu nhiều điều kiện để phát triển, từ vốn, công nghệ, hạ tầng đến cơ chế chính sách.
“Không có doanh nghiệp thì không có tiền cho phát triển; không có trường đào tạo chất lượng cao thì không có nhân tài; còn không có hộ gia đình, đặc biệt là hộ nông dân, thì không có lương thực, thực phẩm và nguyên liệu cho nền kinh tế”, ông nói.
Theo ông Hợp, điều cần ưu tiên hiện nay là hoàn thiện chính sách cho nông dân, trong đó có chính sách thuế. Ông cho rằng, nhiều nước sử dụng thuế như công cụ thúc đẩy phát triển, còn nếu chính sách vẫn mang tính “cào bằng” thì nông dân rất khó có lãi để bám ruộng. “Làm nông mà không có lãi thì không ai muốn làm”, ông nói.
Bên cạnh đó, ông đề nghị cần tháo gỡ vướng mắc về đất đai, đầu tư mạnh hơn cho hạ tầng nông thôn, đẩy mạnh khuyến nông và đào tạo doanh nghiệp tư nhân. Dẫn thực tế tại Thái Bình (nay thuộc tỉnh Hưng Yên), ông cho biết nhiều diện tích ruộng bị bỏ hoang dù điều kiện canh tác thuận lợi. Theo ông, nguyên nhân là lao động trẻ rời quê lên thành phố, trong khi người ở lại “càng làm càng lỗ”.
Ông cho rằng muốn giữ người dân gắn bó với nông nghiệp thì phải có chính sách đủ mạnh để người làm nông nghiệp có thể sống được và làm giàu từ ruộng đất. Trong đó, khoa học công nghệ và chuyển đổi số sẽ là công cụ quan trọng để nâng năng suất và thay đổi tư duy sản xuất. “Khi có chính sách phù hợp, sức vươn lên của nông dân là rất lớn”, ông nhấn mạnh.
Theo TS. Lê Doãn Hợp, trong phát triển kinh tế hôm nay cần phát huy 'kinh tế nhân dân', gồm kinh tế tư nhân, kinh tế hộ gia đình và kinh tế hợp tác. Muốn vậy, cần có cơ chế phù hợp cho từng khu vực để tạo động lực phát triển lâu dài cho nông nghiệp và nông thôn.