Đóng

Chuyện người giữ vị chè Shan tuyết giữa núi rừng Tuyên Quang

Hơn 30 năm gắn bó với chè Shan tuyết, ông Phan Thế Độ lặng lẽ gây dựng thương hiệu từ những búp chè núi rừng, giữ trọn hương vị truyền thống giữa dòng chảy thị trường.

Đầu giờ chiều một ngày tháng 4/2026, khi nắng trải vàng trên những triền đồi của xã Vĩnh Tuy (tỉnh Tuyên Quang), nhóm phóng viên Báo Công Thương chúng tôi theo chân ông Phan Thế Độ, chủ cơ sở chè Shan tuyết công phu Độ Khoa bước vào vùng chè Shan tuyết xanh ngút, nơi câu chuyện về một đời người gắn bó với cây chè dần mở ra.

Ông Phan Thế Độ, chủ cơ sở chè Shan tuyết công phu Độ Khoa. Ảnh: Hán Hiển

Ở tuổi gần 70, dáng đi của ông không còn nhanh, nhưng ánh mắt vẫn dõi theo từng gốc chè như thể đó là những “đứa con” ông đã nuôi lớn bằng cả cuộc đời.

Ông dừng lại, đưa tay khẽ chạm vào một búp chè vừa nhú, rồi nói như một lời khẳng định giản dị mà sâu sắc: “Cái đồi chè này nuôi cả gia đình tôi. Nhà cửa, con cái… cũng từ nó mà ra".

Hơn 30 năm trồng cây, dựng nghiệp

Câu chuyện của ông Độ không bắt đầu từ những thuận lợi. Năm 1995, khi mới 35 tuổi, ông đưa cả gia đình từ Phú Thọ lên Hà Giang lập nghiệp theo diện kinh tế mới, mang theo mẹ già đã ngoài 80 tuổi, vợ yếu và bốn đứa con nhỏ. Những ngày đầu trên vùng đất mới, cuộc sống gần như trắng tay, đất đai hoang hóa, việc mưu sinh chủ yếu dựa vào làm thuê và tận dụng những gốc chè hoang còn sót lại trên núi.

Ông nhớ lại quãng thời gian ấy bằng giọng kể nhẹ nhưng đậm trải nghiệm: “Ngày đó vất vả lắm, làm thuê rồi gom từng gốc chè về trồng. Có gì làm nấy, tích từng chút một”.

Từng bước, ông gom góp, mua lại đất, cải tạo và trồng chè, bắt đầu từ những luống nhỏ rồi mở rộng dần thành hơn 2 ha như hiện nay. Hơn 30 năm trôi qua, vườn chè không chỉ là kế sinh nhai mà còn là nền tảng dựng xây cả gia đình.

Những ngày thu hoạch, ông Phan Thế Độ thường phải thuê thêm nhân công hái chè để kịp sản xuất. Ảnh: Lê Hà

Từ những đồng tiền chắt chiu nhờ chè, ông nuôi các con ăn học, trưởng thành, để rồi giờ đây mỗi người đều có cuộc sống, công việc ổn định ở những nơi khác nhau. Ngôi nhà khang trang giữa vùng đồi hôm nay cũng được dựng lên từ chính những mẻ chè được sao, được sấy qua từng mùa vụ.

Các con giờ mỗi đứa một nơi, nhưng đều lớn lên từ chè”, ông nói, ánh mắt vẫn hướng về triền đồi. Với ông, chè không đơn thuần là cây trồng, mà trở thành một phần máu thịt, ký ức và cũng là niềm tự hào.

Trên đồi chè của gia đình, vào những ngày cuối tháng Ba, đầu tháng Tư, khi nắng bắt đầu hong ấm, từng búp chè Shan tuyết mập mạp, phủ lớp lông tơ trắng bắt đầu bật lên, báo hiệu một vụ chè mới. Tuy nhiên, việc thu hái không hề đơn giản, bởi mỗi búp chè đều phải đạt tiêu chuẩn “một tôm, một lá”, được lựa chọn kỹ lưỡng trong điều kiện thời tiết khô ráo để giữ trọn độ tươi và hương vị tự nhiên.

Ông Độ nói ngắn gọn nhưng dứt khoát: “Chè này không giống dưới xuôi, không phải cứ có là hái. Phải đúng lúc thì mới ra chất”.

Những búp chè non đạt tiêu chuẩn được hái mang về. Ảnh: Lê Hà

Không giống những vùng chè sản xuất đại trà, ông Độ lựa chọn hướng đi bền vững khi duy trì phương thức canh tác gần với tự nhiên. Đất được bón bằng phân hữu cơ, độ ẩm được điều tiết thủ công, sâu bệnh được kiểm soát bằng phương pháp sinh học thay vì hóa chất. Một nửa diện tích được giữ nguyên cây để khai thác chè đông và chè xuân. Đây là những lứa chè cho hương vị sâu nhất; phần còn lại được đốn theo chu kỳ để đảm bảo sản lượng quanh năm.

Nếu khâu trồng và thu hái quyết định “chất” của chè, chế biến chính là nơi giữ "vị” của sản phẩm. Trong khu xưởng nhỏ phía sau nhà, từng công đoạn được thực hiện cẩn trọng, từ nhóm lửa, sao chè, vò chè đến sấy khô. Củi đun phải là loại khô, chắc để giữ nhiệt ổn định; khi sao, người làm phải quan sát màu lá để điều chỉnh lửa linh hoạt. Đến công đoạn vò, lực tay hoặc lực máy phải được căn chuẩn để cánh chè xoăn đều, không nát và cuối cùng là sấy khô - công đoạn quyết định việc giữ lại tinh chất bên trong từng cánh chè.

Đứng bên mẻ chè đang sao, ông chia sẻ: “Làm chè không có công thức đâu, phải nhìn bằng mắt, cảm bằng tay. Lửa mà lệch một chút là hỏng cả mẻ”.

Ông Phan Thế Độ bên vườn chè rộng hơn 2ha của gia đình. Ảnh: Văn Thi

Từng bước khẳng định giá trị thương hiệu

Bước ngoặt đáng nhớ đến với ông vào khoảng năm 2017, khi cơ sở được Trung tâm Xúc tiến Công Thương tỉnh Hà Giang (nay là tỉnh Tuyên Quang) hỗ trợ máy sấy chè. Ông kể lại với sự cân nhắc rất rõ ràng: “Nhiều nơi họ đầu tư máy to, tiền tỷ. Tôi không làm vậy, tôi chọn máy phù hợp, cái mình làm chủ được”.

Chính những thiết bị “vừa sức” ấy lại tạo nên thay đổi lớn. Việc chế biến không còn phụ thuộc hoàn toàn vào thời tiết, các mẻ chè ổn định hơn, chất lượng đồng đều hơn. Từ đó, ông bắt đầu phát triển các dòng sản phẩm cao cấp, nâng dần giá trị của chè Shan tuyết. “Có máy rồi mới dám nghĩ đến chuyện làm chè chất lượng cao”, ông nói.

Hiện nay, mỗi năm cơ sở của ông sản xuất khoảng 1,5 tấn chè, với nhiều dòng sản phẩm khác nhau, trong đó có một dòng trà cao cấp nhất, chỉ được sản xuất vào dịp cuối năm với sản lượng rất hạn chế. Mức giá có thể lên tới hàng triệu đồng mỗi kg, nhưng không phải lúc nào cũng có, bởi nguyên liệu và thời điểm sản xuất hoàn toàn phụ thuộc vào tự nhiên.

Dù thị trường ngày càng cạnh tranh, ông Độ vẫn giữ cách bán hàng riêng, không qua trung gian mà chủ yếu bán trực tiếp cho khách quen. “Có bao nhiêu bán bấy nhiêu, nhưng phải giữ uy tín. Chất lượng không được thay đổi”, ông khẳng định.

Ngồi bên ấm trà vừa pha, nước trà trong, màu không quá đậm, nhưng khi nhấp một ngụm, vị chát nhẹ lan nhanh rồi lắng lại bằng hậu ngọt sâu, kéo dài nơi cuống họng. Ông cười, chậm rãi nói: “Chè của tôi nhìn thì nhạt, nhưng uống lại đậm. Cái đậm ở hậu vị, không phải do màu nước”.

Sản phẩm chè Shan tuyết công phu Độ Khoa đạt OCOP 3 sao. Ảnh: Văn Thi

Chính thứ “đậm” ấy khiến người uống dễ nhớ, dễ quen và cũng khó thay thế. Không quảng bá rầm rộ, nhưng trà Shan tuyết công phu Độ Khoa vẫn được biết đến rộng rãi, từng bước tiếp cận thị trường nước ngoài như Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc thông qua các kênh bán hàng mới. Những năm gần đây, ông cũng bắt đầu làm quen với mạng xã hội, livestream, từng bước mở rộng đầu ra nhưng vẫn giữ nguyên triết lý làm chè.

Khi nắng chiều dần tắt trên những triền đồi, ông Phan Thế Độ lại lặng lẽ bước ra vườn chè. Vẫn con đường ấy, vẫn những gốc chè đã đi cùng ông suốt gần ba mươi năm, chỉ có thời gian là lặng lẽ trôi qua. Ông dừng lại, nhìn một búp chè non, rồi nói chậm rãi: “Làm chè phải có duyên. Không có duyên thì không giữ được nghề đâu".

Theo chân ông Độ, chúng tôi cũng hiểu ra rằng, thứ giữ ông lại với những đồi chè không chỉ là kế sinh nhai, mà còn là một niềm tin bền bỉ vào giá trị của sự tử tế và kiên trì.

Hơn 30 năm, hành trình ấy không có những bước nhảy vọt, không ồn ào, không phô trương. Chỉ là những mùa chè nối tiếp, những mẻ chè được canh lửa trong im lặng và một người đàn ông lặng lẽ giữ lấy hương vị của núi rừng.

Giữa nhịp sống ngày càng nhanh, khi nhiều giá trị có thể bị làm vội, làm giả, ở một góc nhỏ của Tuyên Quang, vẫn có những người như ông Độ - chọn đi chậm, làm thật và giữ nguyên cái “cốt” của nghề.

Có lẽ, chính vì thế, mỗi chén trà Shan tuyết nơi đây không chỉ là một thức uống, mà là kết tinh của thời gian, bàn tay và cả một đời người - thứ hương vị đủ sâu để người ta không chỉ uống, mà còn nhớ.

Thi Hiển Hà