Theo Nghị định, Nhà nước khuyến khích xây dựng và ứng dụng nền tảng công nghệ để phục vụ công tác quản lý chất lượng. Trong đó, tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh được khuyến khích sử dụng các công nghệ mã số, mã vạch gồm mã hóa một chiều, mã hóa hai chiều như mã QR, mã hai chiều dạng ma trận dữ liệu Datamatrix, công nghệ nhận dạng bằng tần số vô tuyến RFID, công nghệ giao tiếp trường gần NFC cùng các công nghệ phù hợp khác.
Việc ứng dụng được ưu tiên kết hợp với trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn và Internet vạn vật nhằm thu thập, lưu trữ và chia sẻ dữ liệu về chất lượng sản phẩm, hàng hóa trong toàn bộ chuỗi cung ứng.
Khuyến khích tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh ứng dụng mã số, mã vạch trong quản lý chất lượng, truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hóa.
Bộ Khoa học và Công nghệ ban hành hướng dẫn cung cấp thông tin về chất lượng sản phẩm, hàng hóa để phục vụ việc thu thập, lưu trữ và chia sẻ dữ liệu giữa các bộ, cơ quan ngang bộ, địa phương, doanh nghiệp, tổ chức và cá nhân.
Bên cạnh đó, Nghị định quy định việc ứng dụng mã số, mã vạch trong quản lý chất lượng và truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hóa. Tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh, dịch vụ được chủ động quyết định việc áp dụng mã số, mã vạch trên các nền tảng công nghệ như chuỗi khối, Internet vạn vật, trí tuệ nhân tạo và các công nghệ mới khác phù hợp với nhu cầu thực tiễn. Khi đã lựa chọn ứng dụng, việc triển khai phải tuân thủ đầy đủ các quy định liên quan tại Nghị định.
Hệ thống truy xuất nguồn gốc do tổ chức, cá nhân sử dụng phải bảo đảm khả năng truy xuất đầy đủ theo các tiêu chuẩn quốc gia, tiêu chuẩn quốc tế, tiêu chuẩn khu vực, tiêu chuẩn nước ngoài hoặc tiêu chuẩn cơ sở phù hợp quy định pháp luật về tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật. Trường hợp có quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về hệ thống truy xuất nguồn gốc, tổ chức, cá nhân phải thực hiện công bố hợp quy theo quy định.
Dữ liệu truy xuất nguồn gốc bao gồm các thông tin cơ bản như tên sản phẩm, hình ảnh sản phẩm, tên và địa chỉ đơn vị sản xuất, kinh doanh, xuất xứ, thương hiệu, nhãn hiệu, số lô hoặc số sê-ri nếu có, hạn sử dụng nếu có.
Về quản lý nhà nước, Chính phủ giao Bộ Khoa học và Công nghệ là cơ quan đầu mối quản lý hoạt động truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hóa. Xây dựng tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về mã số, mã vạch và truy xuất nguồn gốc, vận hành Cổng thông tin truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hóa quốc gia, quản lý nền tảng quốc gia về định danh, xác thực và truy xuất nguồn gốc, đồng thời phối hợp kiểm tra, xử lý vi phạm.
Các bộ quản lý ngành, lĩnh vực và Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố phối hợp tổ chức triển khai, kiểm tra hoạt động truy xuất nguồn gốc trong phạm vi quản lý.
Bộ Công an chủ trì xây dựng, vận hành và nâng cấp nền tảng quốc gia về định danh, xác thực và truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hóa.
Nghị định cũng quy định việc triển khai hộ chiếu số của sản phẩm và nhãn điện tử hàng hóa. Hộ chiếu số được thiết lập dưới dạng dữ liệu điện tử, gắn với mã định danh duy nhất và có thể được sử dụng thay thế nhãn điện tử nếu đáp ứng đầy đủ nội dung ghi nhãn bắt buộc. Bộ Khoa học và Công nghệ sẽ trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt lộ trình áp dụng hộ chiếu số đối với từng nhóm sản phẩm cụ thể.
Nghị định 37/2026/NĐ-CP có hiệu lực thi hành từ ngày 23/1/2026.