Đóng

Tuyên Quang: Chuẩn hóa vùng nguyên liệu để tận dụng hiệu quả C/O

Tuyên Quang xếp thứ 2/34 địa phương về thực thi FTA năm 2025, đặt ra yêu cầu nâng cao năng lực, đáp ứng quy tắc xuất xứ và tận dụng ưu đãi thuế quan của doanh nghiệp

Chuẩn hóa từ vùng nguyên liệu

Trong hội nhập kinh tế quốc tế, ưu đãi thuế quan từ các hiệp định thương mại tự do (FTA) chỉ thực sự phát huy hiệu quả khi doanh nghiệp đáp ứng được quy tắc xuất xứ hàng hóa. Với những địa phương có thế mạnh về nông, lâm sản như Tuyên Quang, yêu cầu này càng gắn chặt với việc tổ chức vùng nguyên liệu, kiểm soát quy trình sản xuất và minh bạch thông tin hàng hóa.

Theo Bộ chỉ số đánh giá kết quả thực thi các FTA tại địa phương (FTA Index) năm 2025, Tuyên Quang đạt 33,61 điểm, xếp thứ 2/34 tỉnh, thành phố, thuộc nhóm địa phương có kết quả thực thi FTA tốt. Trong đó, chỉ số tiếp cận thông tin đạt 8,97 điểm, chỉ số thực hiện quy định pháp luật theo FTA đạt 8,82 điểm; chỉ số chính sách hỗ trợ doanh nghiệp tận dụng FTA đạt 7,36 điểm. Đây là những kết quả cho thấy nỗ lực của địa phương trong việc đưa thông tin và chính sách hội nhập đến gần hơn với cộng đồng doanh nghiệp.

Tuy nhiên, phía sau thứ hạng tích cực vẫn còn những vấn đề cần tiếp tục cải thiện. Đáng chú ý, chỉ tiêu về hình thức tận dụng FTA của Tuyên Quang chỉ xếp thứ 32/34 địa phương; chỉ tiêu về rào cản trong quá trình tận dụng FTA xếp thứ 20/34. Điều này cho thấy khoảng cách giữa khả năng tiếp cận thông tin, thực hiện chính sách với việc khai thác hiệu quả các cơ hội từ FTA vẫn là vấn đề cần được quan tâm.

Với doanh nghiệp xuất khẩu, một trong những yêu cầu quan trọng là chứng minh hàng hóa đáp ứng quy tắc xuất xứ theo từng hiệp định, từng thị trường. Việc có vùng nguyên liệu, mã số vùng trồng hay hệ thống truy xuất nguồn gốc là những yếu tố hỗ trợ quản lý và minh bạch thông tin sản xuất, nhưng không đồng nghĩa hàng hóa đương nhiên đáp ứng quy tắc xuất xứ để được cấp Giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa (C/O).

Ông Nguyễn Tuấn Hưng, Phó Giám đốc Sở Công Thương Tuyên Quang

Trao đổi về hoạt động hỗ trợ doanh nghiệp trên địa bàn, ông Nguyễn Tuấn Hưng, Phó Giám đốc Sở Công Thương Tuyên Quang cho biết, ngành Công Thương triển khai hỗ trợ từ khâu sản xuất đến lưu thông, phân phối, xây dựng thương hiệu và mở rộng thị trường. Các khâu đều được đẩy mạnh ứng dụng số hóa nhằm hỗ trợ doanh nghiệp, hợp tác xã và hộ kinh doanh. Đáng chú ý, nội dung hỗ trợ tập trung cả vào những yếu tố nền tảng của sản phẩm.

“Đặc biệt, chúng tôi hỗ trợ từ khâu kỹ thuật sản xuất đến mã vùng trồng, cũng như bao bì, nhãn mác, làm sao sản phẩm đưa lên môi trường số đảm bảo chất lượng, cũng như đảm bảo uy tín của các chủ thể sản xuất trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang”, ông Nguyễn Tuấn Hưng cho biết

Thực tế, công tác chuẩn hóa vùng sản xuất tại địa phương đã có những bước tiến. Theo số liệu của ngành Nông nghiệp và Môi trường Tuyên Quang, tính đến hết năm 2025, toàn tỉnh có 149 mã số vùng sản xuất được cấp, trong đó 25 mã phục vụ xuất khẩu sang thị trường EU và Trung Quốc, 124 mã phục vụ tiêu thụ nội địa. Các sản phẩm được cấp mã gồm chè, bưởi, thanh long, hồng, nhãn và cây lâm nghiệp.

Đối với từng FTA, tiêu chí xác định xuất xứ có thể khác nhau, đòi hỏi doanh nghiệp chủ động nắm bắt quy định và chuẩn bị hồ sơ phù hợp.

Cùng với đó, một số hợp tác xã, doanh nghiệp đã chủ động ứng dụng mã QR để cập nhật thông tin sản xuất, giúp người tiêu dùng tra cứu quá trình hình thành sản phẩm. Việc số hóa thông tin từ khâu làm đất, bón phân đến thu hoạch góp phần thay đổi phương thức quản lý vùng nguyên liệu, tạo cơ sở minh bạch thông tin và nâng cao khả năng kiểm soát chất lượng.

Đây là nền tảng quan trọng đối với các mặt hàng có định hướng xuất khẩu. Bởi khi tham gia thị trường quốc tế, doanh nghiệp không chỉ phải đáp ứng yêu cầu về chất lượng, an toàn thực phẩm mà còn phải chứng minh được nguồn gốc nguyên liệu, quá trình sản xuất và mức độ đáp ứng quy tắc xuất xứ tương ứng. Đối với từng FTA, tiêu chí xác định xuất xứ có thể khác nhau, đòi hỏi doanh nghiệp chủ động nắm bắt quy định và chuẩn bị hồ sơ phù hợp.

Chuyển lợi thế FTA thành hiệu quả xuất khẩu

Nếu chuẩn hóa vùng nguyên liệu là điều kiện nền tảng thì nâng cao năng lực thực thi quy tắc xuất xứ và sử dụng C/O ưu đãi là khâu quan trọng để doanh nghiệp chuyển cơ hội hội nhập thành lợi ích kinh tế cụ thể.

Thực tế cho thấy, không phải doanh nghiệp nào cũng nắm rõ quy tắc xuất xứ của từng hiệp định, đặc biệt với những mặt hàng có nguyên liệu đầu vào qua nhiều công đoạn hoặc sử dụng nguồn cung từ nhiều thị trường. Việc xác định hàng hóa có đáp ứng tiêu chí xuất xứ hay không, lựa chọn quy tắc phù hợp và hoàn thiện chứng từ chứng minh xuất xứ đòi hỏi kiến thức chuyên môn cũng như sự chủ động của doanh nghiệp.

Trong khi đó, nếu đáp ứng đầy đủ điều kiện và có chứng từ xuất xứ phù hợp, hàng hóa có thể được hưởng mức thuế quan ưu đãi theo cam kết của các FTA. Vì vậy, C/O không chỉ là chứng từ phục vụ thủ tục xuất khẩu mà còn là công cụ giúp doanh nghiệp khai thác lợi ích từ các hiệp định thương mại, nâng cao khả năng cạnh tranh tại thị trường nhập khẩu.

Nhằm khắc phục những hạn chế trong quá trình tận dụng FTA, ngày 31/7/2026, UBND tỉnh Tuyên Quang ban hành Kế hoạch số 298/KH-UBND triển khai Đề án Hệ sinh thái tận dụng các FTA giai đoạn 2026 - 2030, tầm nhìn đến năm 2035 trên địa bàn tỉnh, cụ thể hóa Quyết định số 1253/QĐ-TTg ngày 10/7/2026 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án Hệ sinh thái tận dụng các Hiệp định thương mại tự do (FTA) giai đoạn 2026 - 2030, tầm nhìn đến năm 2035.

Kế hoạch hướng tới hỗ trợ doanh nghiệp, hợp tác xã và hộ kinh doanh nâng cao mức độ tận dụng các cam kết FTA, thúc đẩy liên kết sản xuất, mở rộng hoạt động xuất khẩu, nâng cao năng lực cạnh tranh và gia tăng giá trị hàng hóa. Trong đó, việc cải thiện tỷ lệ sử dụng chứng từ chứng nhận xuất xứ ưu đãi đối với hàng hóa xuất khẩu của doanh nghiệp tham gia hệ sinh thái là một trong những định hướng đáng chú ý.

Các nội dung hỗ trợ được đặt ra không chỉ dừng ở phổ biến thông tin mà hướng đến tư vấn chính sách, cam kết FTA, hỗ trợ đáp ứng tiêu chuẩn của thị trường nhập khẩu, xây dựng thương hiệu, phát triển thị trường, kết nối chuỗi cung ứng và logistics. Sở Công Thương được giao vai trò tham mưu, hướng dẫn, theo dõi, đôn đốc triển khai; phối hợp lựa chọn doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh tham gia hệ sinh thái và tổ chức tuyên truyền, tập huấn nâng cao năng lực tận dụng FTA.

Song song với chính sách hỗ trợ tận dụng FTA, Tuyên Quang cũng triển khai kế hoạch truy xuất nguồn gốc nông, lâm, thủy sản giai đoạn 2026 - 2030, tầm nhìn đến năm 2035. Theo đó, tỉnh từng bước áp dụng hệ thống truy xuất nguồn gốc, nhật ký vùng trồng, nhật ký canh tác, kiểm soát các yếu tố đầu vào như giống, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật và thức ăn chăn nuôi. Thông tin sản phẩm được cập nhật thông qua tem điện tử, mã QR hoặc các phương thức phù hợp, hướng tới hình thành chuỗi cung ứng minh bạch từ sản xuất đến tiêu thụ.

Hai định hướng này có mối liên hệ chặt chẽ. Nếu hệ thống truy xuất nguồn gốc giúp kiểm soát và minh bạch thông tin sản xuất thì việc nâng cao năng lực thực thi FTA giúp doanh nghiệp hiểu và đáp ứng các điều kiện tiếp cận thị trường. Tuy nhiên, để chuyển hóa dữ liệu vùng nguyên liệu thành căn cứ chứng minh xuất xứ, doanh nghiệp vẫn phải đối chiếu với quy tắc cụ thể của từng mặt hàng, từng hiệp định và chuẩn bị đầy đủ hồ sơ theo quy định.

Từ kết quả FTA Index 2025, Tuyên Quang cần tiếp tục nâng cao năng lực doanh nghiệp trong đáp ứng quy tắc xuất xứ, sử dụng C/O ưu đãi và khai thác hiệu quả các cam kết FTA, qua đó gia tăng sức cạnh tranh cho hàng hóa địa phương trên thị trường quốc tế.

Tuyên Quang xếp thứ 2/34 địa phương về thực thi FTA năm 2025. Để phát huy kết quả này, địa phương cần hỗ trợ doanh nghiệp nắm vững quy tắc xuất xứ, hoàn thiện hồ sơ C/O và khai thác hiệu quả ưu đãi thuế quan từ các hiệp định thương mại tự do.

Ngọc Hoa